Dưới Mắt QH1964

Câu Chuyện Văn Chương của Học Trò Huế

Con rắn ở miếu Thành Hoàng (Hải Trình)


Hải Trình

            Đám ma thằng Côi cô quạnh và lạnh giá như cuộc đời và của chính cái tên của nó. Cổ áo quan được ghép vội từ một chiếc bảng đen đã hỏng với mấy mảnh ván vụn của bác phó mộc hàng xóm tốt bụng, được phủ ngoài bằng một lớp giấy hồng điều trông càng thê lương hơn. Tất cả đều do một tay Giáo Mừng lo liệu. Nó là học trò cưng của thầy; hàng ngày nó tự hào được ôm cái cặp da và cây roi mây lẻo đẻo sau lưng thầy. Trên chiếc bàn ộp ẹp bày một chiếc lon sữa bò thay bát nhang, một chén cơm, một quả trứng và vài ba nhánh hoa vạn thọ; đó là bàn linh của nó.

Không phải đợi đến tháng ba giáp hạt mà chỉ sau mấy trận trời hành cơn lụt mỗi năm; cái làng Hải Trạch này đã có nhiều gia đình thiếu đói. Thanh niên trai tráng và cả một vài người già đơn chiếc còn chút sinh lực tụ tập nhau thanh từng nhóm 5,7 người thuê một chiếc đò, cơm đùm gạo bới, chèo ngược dòng Hương Giang lên miệt đại ngàn để “ ăn mày cố mệ”. Mỗi chuyến đi về phải mất 4-5 ngày. Hôm thằng Côi chết, cha nó cũng đang ở trong đám tiều phu bất đắc dĩ đó. Theo lệ làng, những người chết non phải được an tang ngay trong ngày; để lâu dân làng sẽ gặp nhiều điều xui xẻo.

Lớp Ba của thằng Côi được ưu tiên học ở nhà tăng của đình làng. Sân chơi chỉ là một khoảng đất trống trước lớp không đủ để trên 30 đứa học trò đùa giỡn, quậy phá. Học sinh tuyệt đối không được vào khu vực miếu Thành Hoàng bên cạnh. Trước hôm thằng Côi chết khoảng một tuần, giờ chơi nó và thằng Lữ đã lẻn sang phía sau miếu, chúng đã phát hiện ra một điều bí mật: Cửa hông có một tấm ván rời ra, hai đứa lẻn chui vào miếu rồi nhẹ tay đậy lại. Thế là chúng được tự do tung tác nhưng chỉ là đánh cờ gánh, chơi trò ô ăn quan, đôi lúc chúng cũng tò mò sờ tay vào các đồ tự khí bắt mắt như hai chiếc thanh long đao sáng ngời hay quả chùy tròn lửng với những chiếc gai tua tủa. Nhưng điều mà chúng thích nhất là dùng cây thọc vào bụng 3,4 con tắc kè bông to tướng đeo bám trên chiếc đòn tay ngay phía trên bát nhang. Sáng hôm sau, giờ chơi hai đứa lại rủ nhau vào miếu bằng lối đi bí mật đó. Lần này thằng Côi lại phát hiện ra một điều kì lạ, một con rắn chỉ to bằng ngón tay trỏ nằm quấn quanh bát nhang, toàn thân tỏa sáng một màu hồng, duy có cái đầu là màu đỏ tía, lại có một túm lông tơ trên gáy. Theo hiểu biết của nó thì đây chỉ là một con rắn học trò không đáng sợ. Thằng Côi lấy tay khoèo nhẹ cái đuôi, sờ nhẹ lên mình mà nó vẫn nằm im như ngủ, thấy thế nó mạnh dạn bốc con rắn để lên bàn tay mà vuốt ve, nhìn ngắm; chỉ một phút sau bỗng nhiên toàn thân con rắn phì lên to bằng ngón chân cái. Thằng Lữ sợ quá, nó bảo là “rắn ngài” nên chui ra trước. Thằng Côi lại loay hoay đùa giỡn với con rắn một hồi mới trở ra sau. Vừa đến cửa lớp, bỗng dưng  nó khụy người xuống, mặt mày xanh như tàu lá, thở phì phì, miệng mồm bắn ra toàn nước dải như một kẻ động phong. Đám học trò xúm lại la lên, thầy giáo Mừng hớt hải xốc nó đặt lên cái bàn học. Nó lại càng co giật và tiếng khò khè trong họng càng lúc càng to hơn; bỗng dưng toàn thân nó co dúm lại, đôi mắt trợn tròng; một dòng máu đen ngòm ứa ra từ cái miệng méo lệch. Nó trút hơi thở cuối cùng. Bạn bè nó hốt hoảng có đứa khóc ré lên, có đứa chạy ù đi nơi khác. Giáo Mừng rút chiếc khăn tay lau vội miệng mồm cho nó, sửa lại tư thế nằm cho ngay ngắn rồi thầy đưa tay vuốt nhẹ đôi mắt. Bỗng dưng tay thầy khựng lại; màng tang phía trái  xuất hiện hai vết bầm đen. Thầy lẩm bẩm- Thôi rồi, rắn độc!

Hai ngày sau, ghe củi của thằng Ở mới về đến bến. Nghe hung tin, hắn như người mất trí vừa khóc vừa cười, vừa đi vừa chạy, miệng nó lảm nhảm những gì chẳng ai nghe được. Nó băng đồng, đội mưa hướng về doi mả cuối cồn mồ.

Đêm hôm ấy, hắn sốt li bì với những cơn ác mộng chập chờn triền miên… Sáng ra, nó tỉnh giấc nhưng vẫn còn nằm liệt trên giường. Chẳng biết có hẹn hay không mà cả Giáo Mừng cùng Bát phẩm Lệ lại xuất hiện một lúc. Sau lời thăm hỏi vẻ an ủi, Giáo Mừng trao cho hắn một xấp tiền đủ loại; rồi ông tỉ mỉ:- Đây là tiền bán củi chuyến rồi, đây là tiền học sinh phúng điếu, nào là tiến quyên góp của bà con. Tổng cộng được trên 400 đồng. Đoạn Giáo Mừng và Bát phẩm Lệ mỗi người móc ra trao cho nó mười đồng. Hắn lựa lời từ chối nhưng cả hai không chịu. Bát phẩm Lệ nói: Tao và thầy Khóa cho chú để thắp nhang cho thằng Côi, chú phải nhận mới được. Ở thều thào mấy lời cảm ơn rồi lại nằm vật xuống giường. Hai người đứng dậy ra về. Cả cái làng Hải Trạch này nhiều người đã phát ghen với Ở về sự ưu ái của hai nhân vật thuộc hạng có uy tín nhất ở địa phương. Có lẽ Giáo Mừng với hắn cùng một hoàn cảnh gà trống nuôi con, cả hai lại cùng là những người ngụ bạc. Vả lại, thằng Côi là một học trò ngoan, giỏi của thầy. Đã nhiều lần hắn ngõ ý gởi gắm con nó cho thầy, nhờ thầy truyền cho nó một mớ chữ nghĩa để sau này nó sướng thân,  tránh phải cái cảnh tôi đòi như hai đời cha ông nó. Ở thấy khát rang cổ họng. Hắn lồm cồm ngồi dậy cố mò ra cái ấm nước vầng trên bếp tro đã lạnh ngắt mấy ngày nay, chỉ còn vừa đủ một hớp pha mùi khói rạ. Thấy thấp thoáng bóng ai ngoài sân, hắn nhìn ra; Thoa đã nhanh chân bước vào, nàng vội trao cái xoong cháo cá còn bốc khói, hai gói thuốc căn cơ tán, một chai dầu nhị thiên đường và còn có cả một bó lá xông. Nàng nói lí nhí mấy câu rồi vội vã bỏ ra như sợ có người nhìn thấy. Từ ngày mẹ thằng Côi mất đến nay, đã hơn mười năm dài. Giờ đây Ở mới nhận được hơi ấm từ sự chăm sóc chu đáo của một người đàn bà. Có lẽ đây là liều thuốc kì diệu đã đem lại sự hồi sinh. Hôm sau, người hắn đã tươi tắn trở lại nhưng nỗi buồn thương nhớ thằng con vẫn còn dai dẳng. Mấy ngày liền, hắn chỉ quanh quẩn trong túp lều tranh trống vắng. Thỉnh thoảng lại đốt cây nhang cắm lên bàn thờ đứa con vắn số. Bát phẩm Lệ thương hắn cũng có nhiều lí do, hiền lành chất phác số phận hẩm hiu lại giúp cho lão được nhiều việc: khi thì lợp lại chái hè, khi thì làm cỏ sân vườn, chăm sóc chu đáo mấy luống khoai, bụi chuối. Lão cũng trả tiền công đàng hoàng lại có phần hậu hĩnh hơn nữa là đằng khác. Đúng ngày làm tuần thứ nhất. Ở ra chợ mua con gà giò, mấy lon nếp, chùm hoa vạn thọ. Tối đến, khi hàng xóm đã đi ngủ cả. Hắn bầy lễ vật lên bàn thờ thằng Côi, đốt đèn nhang rồi ngồi lặng yên tưởng nhớ đến con. Hắn khóc một mình. Ngồi ôn lại cuộc đời đầy sống gió – Sau trận lụt khủng khiếp năm ấy, dân làng phá Tam Giang hầu như đã chết trôi hết gần một nửa. Cha mẹ hắn cũng nằm trong đám người bất hạnh ấy. Nhờ người cô sống sót nuôi nấng từ lúc lên 5 đến lúc 12 tuổi, hắn phải đi ở đợ nhà ông Chánh Tổng Thị cho đến tuổi trưởng thành. Hắn chẳng biết tên cúng cơm của mình là gì, chỉ biết lơ mơ rằng khi mới đến nhà Chánh Tổng. Biết được tên hắn trùng với tên húy của nội tổ chủ nhà nên người ta lại đặt tên mới cho hắn, từ đó nó bắt đầu mang cái tên mà nghe ra đã biết thân phận của một kẻ tôi đòi: thằng Ở. Cái ơn nghĩa sâu nặng nhất mà nó nguyện cả đời không bao giờ quên là việc ông Chánh Tổng đã dựng vợ gã chồng cho nó, lại còn cho nó một khoảnh đất nhỏ ở góc vườn để làm chốn nương thân. Nói là dựng vợ gã chồng cho phải đạo ấy thôi. Chẳng qua chỉ là việc hợp thức hóa hôn nhân giữa hắn và một người đàn bà làm công góa bụa. Với uy tín của một vị Chánh tổng đương quyền ấy cũng là một việc trọng thị. Có người ác ý lại phao tin lão Chánh tổng đã lang chạ với người ăn kẻ ở rồi bán cái cho thằng Ở để tránh tai tiếng, ảnh hưởng đến gia phong và quyền uy. Nhưng mọi chuyện thị phi hắn đều bỏ ngoài tai. Với thân phận tôi đòi như hắn thì nằm mơ cũng chẳng có được. Vả lại ông trời cũng có mắt. Thằng Côi giống hắn như khuôn đúc- cái dáng lùn lùn, chân đi chữ bát, đôi vành tai dão ra như thỏ thì còn chối đằng nào nữa. Hắn hạnh phúc thật sự với người đàn bà lưu lạc đó. Vợ hắn hiền từ, biết chiều chồng chăm con, chí thú làm ăn tần tảo. Con tạo lá lay, nó lại đánh ghen với cả hạng người cùng khổ như thằng Ở. Chỉ một năm sau ngày sinh thằng Đợ thì vợ nó qua đời sau cơn bạo bệnh. Thằng cu Đợ nay được cải thành cu Côi cho “dễ nuôi”. Thế là cha con hẩm hút với nhau được hơn 10 năm rồi; vậy mà bây giờ thằng Côi, nguồn an ủi duy nhất của đời hắn chỉ còn là một bát nhang lạnh giá. Đang ngồi miên man suy nghĩ, chợt cánh cửa sau động đậy, khẻ bước lại gần. Hắn nghe rõ tiếng Thoa qua kẻ lá : “Mở cửa ra.” Hắn run người, mân mê một hồi mới kéo được cái cây gài cửa. Không vào nhà, hắn kéo tay nàng sang bụi chuối phía sau chuồng trâu. Hai trái tim tưởng chừng như băng giá suốt đời nay bỗng dưng lại hừng hực lửa tình. Thằng Ở mạnh dạn ôm nàng sát vào lòng để tận hưởng cái giây phút ngàn năm một thuở. Bỗng dưng mắt nó hoa lên. Ngôi nhà hắn đằng kia đã phủ kín ngọn lửa sáng rợp trời, tiếng đòn tay nổ lốp bốp, tro bụi mù trời. Chỉ trong chốc lát, cái gia tài thuộc loại tận cùng của xã hội đã tan thành mây khói. Tiếng la hét hòa lẫn tiếng chân rầm rập của dân làng đến cũng chỉ để mà đứng nhìn đống tro tàn. Trong cơn hỗn loạn đó, Thoa đã nhanh chân hòa vào đám đông còn Ở thì vẫn cố thu mình sau thân mấy cây chuối sứ khổng lồ đã nhàu lá bởi ngọn lửa bắt sang.

Sáng hôm sau, người ta không còn thấy bóng dáng thằng Ở trong làng. Tha hồ mà người ta đồn đoán. Nào là vong hồn thằng Côi về thăm cha nó làm phát hỏa bát nhang mà gây nên hỏa hoạn. Nào là việc ông Chánh tổng sai người đốt nhà nó để vong hồn thằng Côi khỏi hiện về mà quấy phá con cháu nhà ông. Còn Thoa thì cứ thơ thẩn vào ra như kẻ mất hồn. Thế là hết, mồ côi mẹ từ thuở lên năm. Cha nàng, Giáo Mừng ở vậy chịu cảnh gà trống nuôi con với đồng lương Hương sư phụ khuyết ba tháng lãnh một lần chỉ vỏn vẹn 600 đồng nhưng bù lại thầy được làng cấp năm sào ruộng loại nhị đẳng điền. Con nhà gia giáo, nhan sắc cũng dễ coi, đã nhiều đám dạm hỏi nhưng vì không muốn cha già chịu cảnh cô quạnh, nàng đã nhất mực từ chối. Nay thời xuân sắc đã dần phai nhạt. Chuyện chồng con Thoa không còn gì để mơ tưởng nữa.

Thằng Ở bỏ làng ra đi được khoảng mươi hôm thì tai họa lại đến với dân làng Hải Trạch. Tai họa xảy ra ngay giữa chốn thờ phụng linh thiêng. Một buổi sáng, người ta phát hiện Từ Mậu nằm chết cong queo, miệng còn đọng đầy đờm dải pha lẫn với máu bầm ngay dưới bàn thờ thành hoàng. Không thể giấu giếm. Lý trưởng Dy phải báo lên huyện đường. Tri huyện Phú Vang mới vừa nhậm chức là người tây học lại còn trẻ tuổi nên đám quan chức địa phương rất dè nể. Đề lại phụ trách án tiết được cử về lập biên bản vi bằng và chỉ thị cho tổng Mậu Tài phải giúp hương chức làng Hải Trạch tìm biện pháp chấm dứt cảnh dân làng bị chết oan vì loài rắn độc ở ngay tại đình thờ. Ngày hôm sau, Chánh tổng Thị triệu tập Hội đồng hương chánh để thi hành chỉ thị của cấp trên. Cánh thủ cựu gồm mấy lão nho học nửa vời, thuộc hạng “học năm ba chữ để ăn quanh trong làng” thì lý giải: – Thành Hoàng quở trách dân làng có kẻ thất lễ với Ngài. Phải tế Tam sanh để tạ tội trời đất thì mới tai qua nạn khỏi. Những người tân tiến thì bài bác giải pháp này. Người đứng đầu là Bát phẩm Lệ. Nguyên là một đội Khố xanh, đã học hết lớp Nhì nhất niên ( tương đương với lớp 4 bây giờ); khi đáo hạn, lão được triều đình Thành Thái ban phẩm hàm Tòng Bát Phẩm đưa ra luận cứ: Các Ngài đã bảo thành hoàng làng ta linh hiển và thương dân lắm. Vào thời buổi dịch tể đã giết gần nửa dân số làng bên, trong đêm đám âm binh và ma dịch kéo sang làng ta thì ngài thành hoàng đã mặt áo đỏ, hiện ra trên cây dương liễu trước miếu mà xua tay, ra hiệu cho chúng rời xa nơi khác. Nhờ vậy mà năm ấy dân làng ta đã tránh được cơn đại họa. Thế thì thiết gì mà ngài lại ra tay sát hại hai sinh linh thuộc loại cùng khổ nhất làng. Theo chúng tôi, ngày mai, sắc dân ra đình mà làm sưu dịch hai ngày. Phát hoang bờ bụi và đào bỏ gốc đa cổ thụ đã chết đứng mấy năm rồi; đây mới là nơi ẩn cư của loài rắn độc. Hôm sau, đám dân đinh đã được triệu tập ngay trước sân đình, dưới sự chỉ huy của Kiểm Cẩn. Bỗng dưng thằng Ở xuất hiện, tay hắn cầm cây mác mài sáng ngời, cùng tham gia với đám đào bới. Ngay khi gốc đa vừa bật lên, một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp; hai con rắn hổ chúa, mỗi con dài gần 3m to bằng cổ tay người lớn, da dẻ xù xì, ẩm mốc trông rất kinh hãi đang đờ đẫn bò ra. Chớp mắt, thằng Ở đã vung cao cây mác chém lia lịa, máu me tuôn xối xả, văng đỏ cả mặt mày quần áo hắn. Vẫn lầm lì không nói một lời nào hắn chém vỡ nốt mấy quả trứng lông lốc gần đấy, mấy chú rắn con bò ra nhun nhúc, hắn cũng không tha. Rồi hắn lẳng lặng vác mác vào làng. Không mấy ai biết lý do trở về của hắn. Vì không nở để nắm xương tàn của thằng Côi lạnh lẽo hay hắn trở về vì không quên được hơi thở nồng ấm, ngọt ngào của Thoa vào cái đêm kinh hoàng đó? Sáng hôm sau, người ta thấy hắn ở trong nhà Chánh tổng Thị. Lão đã tính kỉ khi cho hắn ở trong nhà. Một lão được tiếng là người nhân đức, hai là có mặt thằng Ở cũng đỡ công thay việc. Vụ mùa năm ấy, thằng Ở thường sang giúp giáo Mừng. Độ rày Thoa cũng thường hay đau ốm vặt vãnh; thế là thiên hạ lại bắt đầu dị nghị. Dân cái làng này đã bao đời nghèo rách mồng tơi nhưng lại giàu về chuyện ngồi lê đôi mách. Họ bàn đến chuyện “ trai quá vợ, gái lỡ thì”, lửa gần rơm… Có kẻ ranh ma lại khen kéo: “Giáo Mừng có phước, chọn  được người giỏi giang, hiền từ lại có đường bắt rể…” Sau cái chết của từ Mậu, dân làng không ai dám nhận lãnh chức giữ từ với ân tứ  hậu hĩnh: được nhận năm sào ruộng và hưởng huê lợi hai sào vườn sau đình. Từ ngày thằng Ở trở về, lão Bát phẩm như để ý chăm sóc nó hơn. Phải chăng vì nó đã hiên ngang chém banh thay hai con rắn độc để minh chứng cho ý kiến của lão. Việc này đã làm tăng uy tín của lão với Hội đồng hương chính và tranh thủ được sự ủng hộ của đám quan chức trên huyện đường.  Có lần Bát phẩm Lệ đã gợi ý cho nó đảm trách việc giữ từ nhưng nó đã khéo léo từ chối. Nó viện cớ mình sắp trở về quê cũ để sống với dòng họ trong quãng đời còn lại. Một lần vui miệng, lão đã nửa đùa nửa thật nói với Ở: “Biết đâu ở lại cái làng này, mày lại có dịp nên đôi nên đũa với gái nhà lành”. Với Giáo Mừng, Bát phẩm Lệ là người ban ơn ban nghĩa, chính lão đã cưu mang Giáo Mừng về xây dựng cơ nghiệp ở cái làng Hải Trạch này. Vốn quen biết nhau từ lúc còn học trường Tổng, lão học sau Giáo Mừng hai lớp và lại nhỏ hơn đến sáu tuổi; chính vì vậy họ xử sự với nhau như tình huynh đệ. Giáo Mừng không gọi lão là Bát phẩm mà gọi là anh Đội. Đổi lại lão gọi Giáo Mừng là chú Khóa( thời bấy giờ ai đỗ tiểu học thì được gọi là thầy Khóa). Việc muốn trở lại quê nhà của thằng Ở chỉ là một cái cớ. Ra ở giữ từ hắn sợ tai họa như lão Mậu, hơn nữa nổi ám ảnh về đứa con thân yêu của hắn đã bỏ mạng nơi đây vì loài rắn độc. Bởi vậy mà hắn cứ lần lửa hẹn.

Gần đây, thỉnh thoảng thằng Ở lại chèo ghe mang nhang ra giao cho các quán hàng ở chợ huyện giúp lão Bát phẩm. Lúc ra về, ghé lại tiệm hút của một người Tàu nhận một chai nước “hương liệu”, đó là một loại nước có màu đen xám, mùi tanh tanh mang về cho chủ. Hơn một năm nay thằng con trai duy nhất của lão Bát phẩm đã mở cơ sở làm nhang tại nhà. Ngày khai trương, lão Bát phẩm đã khôn khéo tiếp thị ngay tại đình làng trong dịp lễ Thu tế. Lão đã xin dâng cúng loại nhang đặc biết và hứa sẽ cung cấp nhang để cúng đình tròn năm đó. Nói vậy chứ ban nghi lễ cũng không để cho lão chịu thiệt. Từ đó hiệu nhang của con trai lão được quãng bá rộng rãi, tiêu thụ khá mạnh trong vùng và lan ra cả chợ huyện. Cũng nhờ chất liệu đặc biệt của mùi nhang, thoang thoảng hương trầm, tuy pha mùi hăng hắc nhưng chỉ ít phút sau lại có cảm giác lâng lâng sảng khoái. Một buổi sáng cuối đông, người ta thấy thằng Ở đang loay hoay sửa lại chái bếp cùng với lão Vấn, người chăn vịt ở cạnh đình. Thế là thằng Ở đã nhận chức giữ từ kể từ hôm đó. Làng Hải Trạch có cái lệ rất khắc khe, người giữ từ phải độc thân, lớn tuổi như thế việc nhang khói mới tinh tấn, trang nghiêm. Lý do thằng Ở nhận giữ từ chỉ có lão Bát phẩm và hắn biết. Mãi mê với công việc đến hết canh một hắn mới nghỉ tay ăn cơm và chuẩn bị nhang khói bái yết Thành hoàng. Khăn áo chỉnh tề, hắn trịnh trọng mở cửa miếu. Vừa sờ đến ống nhang, bất thần một con vật dài, lớn cở ngón tay bắn mình xuống nền gạch. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, hắn chỉ nhìn thấy một màu sáng bạc,uốn mình qua lại rồi biến mất vào xó tường. Vặn to ngọn đèn, hắn tiến đến gần quan sát, đó là một lỗ hổng bằng ngón tay cái. Khấn vái xong, hắn trở về nhà tăng, ngồi hút thuốc. Lên giường, trằn trọc mãi vẫn không sao ngủ được. Đêm nay, chính mắt hắn đã nhận diện kẻ thù giết con hắn. Bỗng hắn đứng phắt dậy, chạy thẳng ra chái bếp, rút mạnh cây mác trên vách, ra trước sân ngồi mài trong bóng tối. Tay xách đèn lồng, tay cầm cây mác, hắn đẩy nhẹ cánh cửa, lẻn vào. Ngồi tựa vào vách, đối diện bát nhang Thành hoàng, vặn nhỏ tim đèn. Mắt mở to như muốn chọc thủng cái ánh sáng tù mù. Hắn kiên nhẫn chờ đợi. Chợt hắn nín thở, ánh mắt rực lửa căm thù. Nó đang từ từ bò ra, rồi chậm rải như có ý dò xét, trườn về phía chân bệ thờ. Vừa đúng tầm tay, Ở giơ cao chiếc mác khỏi đầu,dùng hết sức bình sinh bổ xuồng – “Phụp”, một tia máu nóng văng ngay vào mặt, hắn nghe rõ mùi tanh. Con vật bung mình lên khỏi mặt đất, cuộn tròn rồi rơi ngay xuống vũng máu. Yên chí, hắn đưa tay vặn cao ngọn đèn nhưng tay kia vẫn còn ghì chặt cây mác. Con rắn quằn quại, lăn lóc trên nền gạch,quấn cong chiếc đuôi nhưng chỉ còn ngo ngoe yếu ớt  rồi nằm bất động. Cúi xuống, nhìn kĩ, cái đầu con rắn đã văng đâu mất. Hắn nắm cái đuôi giơ lên, vài giọt máu đen sì từ từ rơi ra từ chiếc cổ đứt lìa của con vật xấu số. Nhưng chưa đã giận, hắn quất mạnh xác con vật vào tường mấy cái rồi ra phía sau miếu thẳng tay ném vào bụi dứa gai. Hắn trở lại nhà tăng, đánh một giấc cho đến khi mặt trời mọc. Cao hứng, chiều hôm ấy, hắn xách chai rượu sang chòi lão Vấn và ở đó đến sáng mai mới về.

Nhìn những hàng ớt thẳng tắp, mấy nụ hoa đầu mùa đã nhú ra như những hạt cúc áo trắng tinh, lẫn trong tàn lá mượt mà màu xanh lá mạ; bên cạnh những luống cà đã bắt đầu e ấp nụ tầm xuân. Một tia sáng lóe lên trong cuộc đời của hắn- Ham muốn một mái ấm gia đình lại thôi thúc hắn hơn lúc nào cả. Từ lúc về ở đợ cho nhà ông Chánh tổng đến lúc lập gia đình với người vợ vắn số. Với hắn, sở hữu được năm sào ruộng với hai sào vườn là một điều không tưởng. Hắn biết đây là một ân tứ mà Bát phẩm Lệ đã ưu ái dành cho cuộc đời hắn. Có điều lạ là hắn giữ kín chuyện cái đêm trả nợ máu kinh hoàng đó. Người ta chỉ biết bây giờ thằng Ở ra vẻ yêu đời hơn.

Chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày “Xuân thủ kì yên”, sáng hôm đó, đầu xâu(1) Ẩm ra đình sớm, lão tìm thằng Ở để cùng quét dọn bàn thờ, miếu mạo quanh sân đình. Tìm mãi không thấy nó ở đâu, lúc ngang qua chánh điện, thấy cửa đã mở toang hồi nào, nhìn vào bỗng lão hốt hoảng, chỉ biết ú ớ một hồi rồi mới cất tiếng la lên, gọi lão Vấn đang chăn vịt ngoài đồng. Hai người vào chánh điện, thấy thằng Ở nằm co quắp ngay dưới bệ thờ Thành hoàng. Toàn thân lạnh ngắt, cứng đờ. Ẩm chạy ngay vào làng báo cho Lí trưởng và một vài người trong hội đồng hương chánh. Chẳng bao lâu, dân làng kéo đến đen nghịt sân đình. Chánh tổng Thị sai người cấp báo lên huyện đường. Đích thân tri huyện Phú Vang cùng thầy lại án tiết xuống hiện trường xem xét và điều tra sự việc. Biên bản vi bằng ghi rõ: “Nạn nhân Phạm Văn Ở chết do giẫm phải xương đầu của một loài rắn độc đã khô, hai răng móc ghim vào gót chân trái của nạn nhân…Ước đoán nạn nhân chết vào khoảng đầu hôm…” Khi được sự cho phép của thầy đề, thi thể nạn nhân được mang ra khỏi miếu, miệng nó méo lệch về một bên, một dòng máu khô đen ngòm còn đọng lại trên cổ. Khi gỡ cái xương đầu rắn ra từ gót chân, hai giọt máu bầm từ từ ứa ra từ hai chiếc răng móc. Thông cảm hoàn cảnh, quan tri huyện đã hứa cho hắn tiền mai táng. Đám ma không thể để lâu hơn vì ngày mai là tiên thường Xuân tế. Làng đã quyết định phải mai táng nội trong đêm nay. Quan tài được đặt ở góc vườn sau nhà tăng. Ba hồi đồng la báo hiệu giờ sắp đến giờ di quan, lúc ấy gần khoảng nửa đêm. Bỗng Giáo Mừng xuất hiện, khăn áo chỉnh tề, bên cạnh là Thoa bước vào tay xách cái gói vuông vuông, bọc trong tấm vải điều. Nàng cúi mặt chẳng dám nhìn ai, nhưng cũng không dấu được đôi mắt đỏ hoe. Nàng khẻ đặt lên bàn linh. Giáo Mừng tẩn mẩn mở ra. Đấy là một khay trầu rượu và một khổ vải trắng xếp vuông vức. Trước mặt đầy đủ quan chức bua việc, hai tay chấp trước ngực ông trịnh trọng: “Kính thưa bác lý, kính thưa các vị bô lão và các vị trong hội đồng hương chính. Hôm nay cha con tôi đến đây để xin quí ngài hai việc: – Trước hết tôi xin chịu tội với quí ngài và dân làng về việc tôi đã không làm tròn bổn phận của người cha để con gái tôi hoang thai, làm tổn hại đến thanh danh làng nước. Còn việc thứ hai, xin quí ngài chấp nhận thằng Ở là cha của đứa con hoang thai đó; trước để nó có giọt máu nối dõi tông đường, sau là cháu ngoại tôi khỏi mang tiếng là con vô thừa nhận, không dòng họ tổ tông. Trước vong linh nó tôi xin thề đây là sự thật. Nói đoạn, ông kính cẩn chấp tay xá mọi người, Thoa cũng làm theo cha. Bát phẩm Lệ đứng dậy xua tay rồi ôn tồn: “Chuyện đã đến thế rồi, thầy cũng đã cạn lời, tôi xin thay mặt các ngài có mặt hôm nay chấp nhận lời thỉnh cầu của thầy, thầy đừng làm thế mà chúng tôi thất đức. Thoa cúi đầu xá mọi người rồi đưa tay lấy xấp vải trong khay trịnh trọng quấn lên mái tóc rũ rượi. Nàng quỳ xuống trước bàn linh mà lâm râm khấn vái. Đến giờ di quan, người ta thấy nàng lê bước theo sau quan tài, tay nâng bát nhang mà nước mắt ràng rụa. Có người trầm trồ: – Thế mà thằng Ở có phước, giờ phút cuối cũng có người bịt cho nó một vành khăn tang và phúc đức hơn cả nó đã có người nối dõi tông đường. Được sự can thiệp của lý trưởng Di, thằng Ở được chôn cạnh mồ con nó.

Sau lễ Xuân thủ kỳ yên năm đó, Bát phẩm Lệ bỏ luôn nghề làm nhang. Lý do lão đưa ra xem cũng khó phần thuyết phục- Thằng Ở chết rồi không có ai đem nhang lên chợ huyện vả lại lời lóm chẳng bao nhiêu. Nay lão cần có thời giờ để an dưỡng tuổi già. Dạo này người ta thấy lão và giáo Mừng khắng khít nhau hơn. Hai người lại bắt đầu đi lễ chùa, thường hay lui tới đàm đạo với sư cụ làng bên. Tin đồn thằng Ở bị đầu rắn độc trả thù gây hoang mang không ít cho dân làng và vùng lân cận. Có người cho rằng vì thằng Ở chém chết hai con rắn hổ chúa là lính hầu của Thành hoàng nên bị ngài trừng phạt. Lại có kẻ xấu miệng xấu mồm loan tin vì thằng Ở tằng tịu với con Thoa phía sau đám rẫy rồi lại vào đốt nhang làm ô uế chốn linh thiêng nên bị Thành hoàng bắt phải chết thảm. Duy chỉ có giả thuyết cho rằng loài rắn độc có tính trả thù dai như những câu chuyện hoang đường được truyền tụng trong dân gian là được nhiều người chấp nhận. Họ có biết đâu con rắn độc ở miếu Thành hoàng làng Hải Trạch cũng chỉ là một trong những nạn nhận của nàng tiên nâu, là sợi dây oan nghiệt đã kéo theo ba mạng người thuộc hạng khốn khó nhất trên cõi đời này. Người gieo rắc cái họa ấy không ai khác là lão Bát phẩm Lệ, một người xưa nay vốn được tiếng giàu lòng nhân đức. Nhưng nào có ai ngờ chính lão đã tự tay châm lửa đốt nhà thằng Ở, rồi phao tin vu cho chánh tổng Thị, nhằm hạ uy tín ông ta trong kì bỏ thăm nhiệm kì sắp đến, để tranh giành cái chức mà lão đang dòm ngó  . Cách đây chừng hai năm,  lúc sửa nhà cho lão, thằng Ở đã bị cây đè, hậu quả dẫn đến chứng vô sinh. Chỉ có lão là người duy nhất được bác sĩ điều trị cho biết việc này; trong lúc lão thăm nuôi  Nhưng vì sợ liên lụy nên lão đã dấu nhẹm. Những lần hẹn hò lui tới giữa Thoa và thằng Ở đều do lão sắp xếp. Tác giả cái bào thai trong bụng con Thoa không ai khác là lão. Thằng Ở được sử dụng như ngọn lá chắn để che đậy mối tình vụn trộm giữa lão và con gái giáo Mừng. Trong đêm đám tang thằng Ở, màn  kịch đã được diễn xuất suông sẻ, trót lọt và có hậu; cũng do chính tay lão dàn dựng. Chỉ tội nghiệp cho vong hồn thằng Ở đã sống với mối tình hờ. Rồi đây, đứa trẻ sắp chào đời chắc cũng không tránh khỏi vòng oan nghiệt, lạc loài do chính bàn tay kẻ tạo ra nó bày mưu lập kế./.

Chú thích:

(1): là người giúp việc cho hội đồng hương chính

Cần Thơ 22/1/2011

Advertisements

Single Post Navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: