Dưới Mắt QH1964

Câu Chuyện Văn Chương của Học Trò Huế

Archive for the month “June, 2013”

Chủ nghĩa tư bản và tình trạng bất bình đẳng (Trần Ngọc Cư dịch – Kỳ 3)

Tháng 6 27, 2013

Jerry Z. Mulle
Trần Ngọc Cư dịch
Gia đình và vốn con người

Cánh Hữu và cánh Tả sai lầm ở những điểm nào (3)

Trong môi trường toàn cầu hóa, tài chính hóa, hậu công nghiệp ngày nay, vốn con người là quan trọng hơn bao giờ hết trong việc quyết định những cơ may trong đời. Điều này khiến vai trò của gia đình trở nên quan trọng hơn cũng bởi vì, các nguồn lực do gia đình truyền lại cho con cái có xu thế định đoạt rất nhiều cho sự thành công ở nhà trường và nơi làm việc, như phát hiện luôn lặp lại của mọi thế hệ các nhà nghiên cứu xã hội và khiến họ tiu nghỉu. Như chuyên gia kinh tế Friedrich Hayek đã vạch ra nửa thế kỷ trước trong cuốn The Constitution of Liberty (Hiến pháp của Tự do), trở ngại chính cho sự bình đẳng về cơ hội là ta không thể tìm được một cơ chế tốt hơn để thay thế những vị phụ huynh thông minh hay những gia đình biết bồi dưỡng tình cảm và văn hóa cho con cái. Theo một nghiên cứu gần đây của hai nhà kinh tế Pedro Carneiro và James Heckman, “Những khác biệt về trình độ kỹ năng nhận thức (cognitive skills) và các kỹ năng không thuộc phạm vi nhận thức (noncognitve skills) xuất hiện sớm trong đời người và tồn tại mãi. Có chăng là, học vấn chỉ đào sâu thêm những khác biệt đầu đời này mà thôi”.
Vốn di truyền nằm dưới nhiều dạng thức khác nhau: cơ cấu gien (genetics), sự nuôi dưỡng trước và sau khi đứa trẻ sinh ra, và các định hướng văn hóa được truyền đạt trong gia đình. Hẳn nhiên, tiền bạc cũng quan trọng, nhưng thường không quan trọng bằng những yếu tố gần như không liên quan đến tiền bạc này. (Sự hiện hữu nổi bật của sách báo trong một hộ gia đình là dấu hiệu con cái đạt điểm cao ở học đường, chứ không phải là lợi tức của gia đình đó.) Qua thời gian, nếu xã hội được tổ chức dựa vào chế độ nhân tài, vốn di truyền gia đình và phần thưởng thị trường sẽ có có xu thế gắn bó với nhau. Những cha mẹ có học vấn thường có khuynh hướng đầu tư thêm thì giờ và năng lực cho việc chăm sóc con cái, thậm chí khi cả cha lẫn mẹ đều bận việc ở sở làm. Và những gia đình có vốn con người phong phú có khả năng sử dụng hiệu quả hơn những phương tiện giáo dục cải tiến mà chủ nghĩa tư bản đương đại cống hiến (chẳng hạn tiềm năng bồi dưỡng tri thức qua Internet) đồng thời chống lại những cạm bẫy tiềm ẩn (như xem TV và chơi các trò chơi vi tính).
Điều này ảnh hưởng đến khả năng của trẻ em trong việc vận dụng nền giáo dục chính thức ở nhà trường, một nền giáo dục ít ra cũng có tiềm năng ngày càng mở rộng để đón tiếp mọi người, bất chấp địa vị kinh tế hay sắc tộc. Vào đầu thế kỷ 20, chỉ có 6,4 % trẻ em Mỹ hoàn tất bậc trung học, và chỉ một trong 400 người tiếp tục lên đại học. Như vậy, thời bấy giờ một bộ phận dân chúng rất đông đảo có khả năng trí óc, nhưng không có cơ hội, để theo đuổi các bằng cấp cao. Ngày nay, tỉ lệ học sinh Mỹ hoàn tất bậc trung học là khoảng 75% (xuống từ đỉnh cao 80% năm 1960), và khoảng 40% thanh niên đăng ký theo học đại học.
Tờ The Economist gần đây đã nhai lại một quan niệm lỗi thời: “Trong một xã hội có cơ hội đồng đều rộng rãi, địa vị của cha mẹ trên thang lợi tức sẽ không mấy ảnh hưởng đến nấc thang lợi tức của con cái họ về sau”. Nhưng sự thật là, càng có cơ hội đồng đều do cơ chế tạo ra bao nhiêu, thì các di sản thuộc vốn con người của gia đình lại càng quan trọng bấy nhiêu. Như nhà khoa học chính trị Edward Banfield nhận xét một thế hệ trước đây trong cuốn The Unheavenly City Revisited [một tác phẩm xét lại các vấn đề đô thị Mỹ, ND], “Toàn bộ nền giáo dục luôn ưu đãi trẻ em thuộc giai cấp trung lưu hoặc thượng lưu, vì thuộc về giai cấp trung lưu hay thượng lưu có nghĩa là hưởng được những phẩm chất tốt đẹp giúp cho việc học tập đặc biệt dễ dàng”. Những cải tiến về phẩm chất trường học có thể cải thiện thành quả giáo dục nói chung, nhưng chúng có xu thế làm gia tăng, chứ không giảm bớt, khoảng cách thành đạt giữa con em xuất thân từ những gia đình có vốn con người chênh lệch nhau. Những nghiên cứu gần đây với mục đích chứng minh rằng tại Hoa Kỳ ngày nay sự thăng tiến xã hội giữa các thế hệ (intergenerational mobility) ít diễn ra hơn so với trong quá khứ (hay so với tại một số quốc gia châu Âu), đã không thấy được rằng sự kiện này thật ra có thể là sản phẩm trớ trêu của nỗ lực gia tăng bình đẳng về cơ hội qua nhiều thế hệ. Và trong khía cạnh này, có thể Hoa Kỳ chỉ là nước dẫn đầu trong các xu thế cũng hiện diện tại các nước tư bản tiên tiến khác.
Thành đạt khác nhau giữa các nhóm xã hội
Gia đình không phải là cơ chế xã hội duy nhất có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển vốn con người (human capital) và đối với sự thành công nhiên hậu trong thị trường; các nhóm cộng đồng, như các cộng đồng tôn giáo, chủng tộc và dân tộc cũng có một ảnh hưởng tương tự. Trong cuốn sách xuất bản năm 1905, The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (Luân lý Tin lành và Tinh thần Tư bản chủ nghĩa), nhà xã hội học Max Weber nhận xét rằng trong các khu vực tôn giáo khác nhau, người Tin lành làm kinh tế giỏi hơn người Công giáo, và người theo Giáo phái Calvin (Calvinists) thành công hơn người theo Giáo phái Luther (Lutherans). Weber đưa ra một một lý giải mang tính văn hóa cho sự khác biệt này, một sự khác biệt có gốc rễ trong những khuynh hướng tâm lý do các đức tin khác nhau này tạo ra. Vài năm sau, trong cuốn The Jews and Modern Capitalism (Người Do Thái và Chủ nghĩa Tư bản Hiện đại), Werner Sombart, người đồng thời với Weber, đưa ra một lý giải khác hơn cho sự thành công của các nhóm khác nhau, bằng cách một phần dựa vào các khuynh hướng văn hóa và một phần dựa vào các khuynh hướng chủng tộc. Và đến năm 1927, Schumpeter, một đồng nghiệp trẻ hơn của họ đã đặt tựa đề cho một bài tiểu luận quan trọng là “Giai cấp xã hội trong một môi trường thuần chủng (ethnically homogeneous)”, vì ông đinh ninh rằng trong một bối cảnh hợp chủng, các mức độ thành đạt thay đổi theo từng sắc dân, chứ không chỉ theo giai cấp xã hội mà thôi.
Những lý giải được đưa ra cho những mô hình nói trên là không quan trọng bằng thực tế là, mức thành đạt khác nhau giữa các nhóm vẫn là một đặc điểm bất diệt trong lịch sử của chế độ tư bản, và những chênh lệch này vẫn tiếp tục tồn tại ngày nay. Tại Hoa Kỳ đương đại, chẳng hạn, người châu Á (đặc biệt khi không kể đến các sắc dân hải đảo Thái Bình Dương) có xu thế thành đạt hơn người da trắng bản xứ (non-Hispanic whites), người da trắng bản xứ lại thành đạt hơn người da trắng gốc châu Mỹ La tinh (Hispanic whites), người châu Mỹ La tinh lại thành đạt hơn người Mỹ gốc châu Phi [người da đen]. Đây là sự thật dù ta nhìn vào sự thành đạt về học vấn, vào lợi tức, hay nhìn vào các loại hình gia đình, như các trường hợp sinh con ngoại hôn chẳng hạn.
Những quốc gia Tây Âu (và nhất là những quốc gia Bắc Âu), với những trình độ bình đẳng kinh tế còn cao hơn Mỹ nhiều, thông thường là những nước có những khối dân thuần chủng hơn Mỹ. Khi những đợt dân nhập cư gần đây làm cho nhiều nước tiên tiến hậu công nghiệp giảm bớt tính thuần chủng so với trước, chúng cũng có vẻ phân hoá giai cấp theo các đường ranh cộng đồng, với một số nhóm dân nhập cư biểu hiện những mô hình thành công hơn khối dân cư hiện hữu từ trước và một số nhóm khác lại ít thành công hơn. Tại Vương quốc Anh chẳng hạn, con cái những người Trung Hoa và người Ấn Độ nhập cư thường thành công hơn dân bản xứ, trong khi con cái của người da đen từ vùng Ca-ri-bê (Caribbean blacks) và người Pakistan thường thua kém hơn. Tại Pháp, con cái của người Việt Nam nhập cư thường thành công hơn con cái người bản xứ, và con cái của các sắc dân Bắc Phi lại thua kém hơn. Tại Israel, con cái của người Nga nhập cư thường thành công hơn người bản xứ, trong khi con cái của những người nhập cư từ Ethiopia lại thua kém hơn. Tại Canada, con cái người Trung Hoa và người Ấn Độ thường thành công hơn con cái dân bản xứ, trong khi con cái của dân nhập cư từ vùng Ca-ri-bê và châu Mỹ La tinh lại thua kém hơn. Phần lớn sự chênh lệnh trong mức độ thành công này có thể được giải thích bằng thành phần giai cấp và quá trình đào tạo khác nhau của các nhóm nhập cư ngay tại cố quốc của họ. Nhưng vì bản thân những cộng đồng nhập cư này đã đóng vai trò là nơi cưu mang vốn con người, những mô hình về sự thành đạt này có khả năng và vẫn còn tồn tại qua thời gian và không gian.
Trong trường hợp Hoa Kỳ, chính sách di trú của nước này đã đóng một một vai trò thậm chí còn lớn hơn trong việc làm nghiêm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng, vì tính năng động kinh tế, sự cởi mở văn hóa, và địa thế của nước Mỹ có xu thế thu hút một số người tài giỏi và thông minh nhất thế giới lẫn một số người ít học nhất thế giới. Sự thể này đã nâng chóp bu của thang kinh tế lên cao và hạ phần dưới cùng xuống thấp hơn nữa.
Tại sao giáo dục không phải là một phương thuốc chữa trị mọi thứ bệnh
Sự nhìn nhận ngày càng rộng lớn về tình trạng bất bình đẳng và phân hóa giai cấp xã hội đang gia tăng tại các nước hậu công nghiệp đương nhiên đã đưa đến các cuộc thảo luận về những điều có thể thực hiện để đối phó vấn đề này. Trong bối cảnh của Hoa Kỳ, câu trả lời đến từ hầu hết mọi thành phần xã hội thật là đơn giản: giáo dục.
Một chủ đề của lập luận này tập trung vào giáo dục đại học. Theo đó, hiện nay có một khoảng cách đang gia tăng về những cơ may trong đời giữa những người tốt nghiệp đại học và những người không tốt nghiệp, và vì thế cần phải có càng nhiều người vào đại học càng tốt. Đáng tiếc là, mặc dù một tỉ lệ người Mỹ cao hơn trước đang theo đuổi bậc đại học, nhưng họ không nhất thiết học hỏi nhiều hơn. Một con số ngày càng đông đảo không đủ khả năng học tập ở bậc đại học, nhiều người phải rời ghế nhà trường trước khi hoàn tất học vị, và nhiều người khác nhận những bằng cấp chỉ phản ánh những tiêu chuẩn thấp hơn trình độ mà người ta thường cho là một bằng đại học phải có.
Trong khi đó, mức chênh lệch đáng kể nhất trong sự thành tựu ở học đường diễn ra sớm hơn bậc đại học, được biểu hiện trong tỉ lệ hoàn tất bậc trung học, và những chênh lệnh quan trọng trong thành tích học tập (giữa các giai cấp xã hội khác nhau và giữa các sắc tộc khác nhau) còn xuất hiện sớm hơn, ngay từ cấp tiểu học. Do đó, một chủ đề thứ hai của cuộc tranh luận giáo dục tập trung vào bậc tiểu học và trung học. Những phương thức chữa trị được đề xuất ở đây gồm có: cung cấp thêm tiền cho các trường học, cho phụ huynh nhiều lựa chọn hơn, kiểm tra bài vở của học sinh thường xuyên hơn, và cải thiện hiệu năng của giáo viên. Thậm chí nếu một số hoặc toàn bộ các biện pháp này là đáng mong muốn vì những lý do khác đi nữa, không một biện pháp nào chứng tỏ đã giảm bớt khoảng cách giữa các học sinh và giữa các nhóm xã hội – vì bản thân nền giáo dục chính thức ở nhà trường (official schooling) đóng một vai trò tương đối nhỏ bé trong việc tạo ra hoặc duy trì các khoảng cách thành đạt (achievement gaps).
Thật ra những khoảng cách này có nguồn gốc trong những mức vốn con người khác nhau (different levels of human capital) mà trẻ em thừa hưởng khi chúng bắt đầu đi học – điều này đã dẫn đến một chủ đề thứ ba của cuộc tranh luận giáo dục, tập trung vào việc chăm sóc tuổi thơ ấu của trẻ em sớm hơn và tích cực hơn. Những đề xuất ở đây thường dẫn đến việc đưa trẻ em ra khỏi môi trường gia đình và đặt chúng vào những bối cảnh mang tính cơ chế (institutional settings) càng dài thời gian càng tốt (như chương trình Head Start, Early Head Start /cho trẻ em đi học sớm) hay thậm chí cố gắng tái xã hội hoá toàn bộ những khu dân sinh (như trong dự án Khu vực của Trẻ em Harlem/the Harlem Children’s Zone project). Có một số trường hợp thành công riêng lẻ với những chương trình này, nhưng không ai biết chắc là chúng có thể được nhân rộng trên một qui mô lớn hơn không. Nhiều chương trình cho thấy kết quả ngắn hạn về khả năng nhận thức, nhưng hầu hết những thành quả này có xu thế mai một qua thời gian, và những thành quả còn sót lại thường là không đáng kể. Có một điều khả tín hơn là, những chương trình này giúp trẻ em trau dồi các kỹ năng không thuộc lãnh vực nhận thức (noncognitive skills [như các đức tính]) và những đặc điểm nhân cách có thể dẫn đến thành công kinh tế tương lai – nhưng với một cái giá và nỗ lực đầu tư đáng kể, vì phải sử dụng các nguồn lực được rút tỉa từ những bộ phận thành công hơn trong xã hội (và như thế làm suy yếu các nguồn lực mà họ có thể sử dụng để đầu tư) hay các nguồn lực được chuyển từ các dự án tiềm năng khác.
Vì tất cả những lý do trên, tình trạng bất bình đẳng trong các xã hội tư bản tiên tiến dường như vừa gia tăng vừa không tránh khỏi, chí ít trong giai đoạn hiện nay. Thật vậy, một trong những khám phá chắc chắn nhất của ngành nghiên cứu khoa học xã hội đương đại là, một khi sự cách biệt giữa các gia đình có lợi tức cao và những gia đình có lợi tức thấp gia tăng, thì những cách biệt trong sự thành đạt về học vấn và công ăn việc làm giữa con cái họ lại càng gia tăng hơn nữa.
Phải làm gì?
Chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn tiếp tục tạo ra những lợi ích ngoạn mục và những cơ hội ngày càng to lớn hơn cho việc tự trau dồi và phát triển bản thân. Nhưng hơn bao giờ hết, những mặt tốt của nó đang đi cùng với những mặt xấu, đặc biệt là việc gia tăng tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế. Như Marx và Engels đã nhận xét chính xác, điều làm cho chủ nghĩa tư bản khác với các hệ thống xã hội và kinh tế khác là nó “thường xuyên cách mạng hóa việc sản xuất, gây xáo trộn liên tục cho mọi tình huống xã hội, [và] mang lại tình trạng bấp bênh và dao động triền miên”.
Vào cuối thế kỷ 18, nhà nghiên cứu và thực hành môn kinh tế chính trị vĩ đại nhất nước Mỹ, Alexander Hamilton, đã có một số nhận xét sâu sắc về tính hàm hồ tất yếu (inevitable ambiguity) của chính sách công trong một thế giới đầy lực hủy diệt sáng tạo (a world of creative destruction):
Cái thân phận mà Thượng đế đã quan phòng vĩnh viễn cho con người là, mỗi điều tốt lành mà con người được thụ hưởng đều bị pha trộn với nhiều điều xấu xa, mọi suối nguồn hoan lạc là ngọn nguồn của thương đau – ngoại trừ một điều là Đức hạnh, điều tốt lành duy nhất không bị pha chế được phép tồn tại trong Thân phận hữu hạn của con người… Người làm chính trị đích thực… sẽ hỗ trợ những cơ chế và kế hoạch nàocó xu thế tạo hạnh phúc cho đồng loại, phù hợp với khuynh hướng tự nhiên của họ là gia tăng gấp bội nguồn hạnh phúc cá nhân và gia tăng các nguồn tài nguyên và sức mạnh quốc gia – cố gắng đưa vào mỗi trường hợp tất cả những thành tố có thể được sử dụng để vạch ra các biện pháp ngăn ngừa và chỉnh sửa cái ác vốn luôn luôn đi đôi với những ân sủng thế gian.
Bây giờ cũng như vào thời đó, vấn đề trước mắt chỉ là làm thế nào để duy trì những ân sủng thế gian của chủ nghĩa tư bản đồng thời vạch ra các biện pháp ngăn ngừa và chỉnh sửa đối với những điều ác vốn luôn luôn đi đôi với những ân sủng ấy.
Một liều thuốc tiềm năng để chữa trị các vấn đề bất bình đẳng và bất an kinh tế giản dị là tái phân phối lợi tức từ chóp bu xuống tận đáy của nền kinh tế. Tuy nhiên, phương thức này có hai khuyết điểm. Khuyết điểm thứ nhất là, qua thời gian, chính các thế lực đã dẫn đến tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng sẽ xác lập lại thế lực của mình; việc này đòi hỏi tái phân phối lợi tức thêm nữa, hay tái phân phối mạnh mẽ hơn. Khuyết điểm thứ hai là vào một thời điểm nào đó, việc tái phân phối lợi tức sẽ tạo ra bất mãn sâu sắc và cản trở các động cơ tăng trưởng kinh tế. Một mức độ nào đó của việc tái phân phối lợi tức thông qua đánh thuế, sau các kết toán thị trường, là điều có thể thực hiện và cần thiết, nhưng mức độ lý tưởng là bao nhiêu thì đây là vấn đề chắc chắn sẽ bị tranh cãi gay gắt, và dù con số có nhiều bao nhiêu đi nữa, việc tái phân phối lợi tức sẽ không bao giờ giải quyết được những vấn đề cơ bản.
Phương thuốc thứ hai, sử dụng chính sách chính phủ để thu hẹp khoảng cách giữa các cá nhân và giữa các nhóm xã hội bằng cách đưa chính sách ưu đãi cho những thành phần làm ăn thất bát, có lẽ còn tồi tệ hại hơn cả chính cơn bệnh. Dù bất cứ ích lợi được viện dẫn là gì đi nữa, những phần thưởng được ủy thác cho một số loại công dân nhất định chắc chắn tạo ra một cảm thức bất công trong phần còn lại của xã hội. Nghiêm trọng hơn nữa là cái giá phải trả cho những phần thưởng này nếu xét về hiệu năng kinh tế, vì theo định nghĩa, chúng sẽ đưa những cá nhân thiếu khả năng lên những địa vị mà họ sẽ không thể vươn tới nếu chỉ dựa vào tài năng của mình. Tương tự như thế, những chính sách cấm đoán việc sử dụng tiêu chuẩn tài năng (meritocratic criteria) trong giáo dục, trong việc thu dụng nhân viên, và cung cấp tín dụng – chỉ vì những tiêu chuẩn này có “tác động chênh lệch” lên số phận của nhiều cộng đồng khác nhau hoặc vì chúng làm gia tăng hậu quả bất bất bình đẳng xã hội – chắc chắn sẽ làm suy giảm phẩm chất của hệ thống giáo dục, lực lượng lao động, và cả nền kinh tế.
Một phương án chữa trị thứ ba, khuyến khích đổi mới kinh tế liên tục để làm lợi cho mọi người, có nhiều hứa hẹn hơn hai phương án trên. Sự kết hợp giữa Internet và các cách mạng điện toán hiện nay có thể được ví với việc khám phá ra điện, một khám phá đã tạo điều kiện cho gần như vô số hoạt động khác, đã chuyển hóa xã hội nói chung trong nhiều cung cách không ai tiên đoán được. Trong số những thành quả khác, Internet đã cực kỳ nhanh chóng gia tăng tốc độ của kiến thức, một yếu tố chủ yếu trong việc tăng trưởng kinh tế tư bản chủ nghĩa chí ít kể từ thế kỷ 18. Thêm vào đó, các viễn ảnh của các ngành khác dù còn nằm trong thời kỳ ấu trĩ, như công nghệ sinh học (biotechnology), sinh tin học (bioinformatics), và công nghệ nanô (nanotechnology), cũng như các viễn ảnh về tăng trưởng kinh tế tương lai và sự cải thiện đang diễn ra của đời sống con người, đều có vẻ sáng sủa một cách hợp lý. Tuy nhiên, thậm chí cả sự đổi mới liên tục lẫn sự phục hồi tăng trưởng kinh tế cũng sẽ không loại bỏ hay thậm chí giảm bớt một cách đáng kể tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế, vì sự khác biệt giữa các cá nhân, giữa các gia đình, và giữa các tập thể sẽ vẫn cứ ảnh hưởng đến sự phát triển vốn con người (human capital) và sự thành đạt nghề nghiệp.
Do đó, muốn cho chủ nghĩa tư bản tiếp tục giữ được tính chính đáng và đáp ứng được nguyện vọng của các bộ phận dân chúng nói chung – kể cả những thành phần hạ lưu và trung lưu trên nấc thang kinh tế xã hội, cũng như những thành phần thượng lưu gần chóp bu, kẻ thua cũng như người thắng – các mạng lưới an toàn do chính phủ lập ra nhằm giúp giảm bớt tình trạng bất an kinh tế, xoa dịu những nhức nhối do thất bại trong thị trường và giúp duy trì cơ hội đồng đều cho mọi người, cần phải được duy trì và được hồi sinh. Những chương trình này đã hiện hữu tại hầu hết các nước trong thế giới tư bản tiên tiến, kể cả Hoa Kỳ, và vì thế cánh Hữu cần phải chấp nhận rằng chúng đang đáp ứng một mục đích không thể thiếu và phải được duy trì chứ không nên cắt bỏ – rằng những chi phí của chính phủ về phúc lợi xã hội là một cách đối phó thích hợp với một số đặc điểm có vấn đề nội tại trong chủ nghĩa tư bản, chứ không phải là một “con quái vật” cần phải “bỏ đói”.
Tại Hoa Kỳ chẳng hạn, những biện pháp như an sinh xã hội (Social Security), bảo hiểm thất nghiệp (unemployment insurance), phiếu mua thực phẩm dành cho người nghèo (food stamps), tín chỉ giảm thuế lợi tức (the Earned Income Tax Credit), chế độ y tế cho người nghỉ hưu (Medicare), chế độ y tế cho người già hay người tàn tật (Medicaid), và việc nới rộng bảo hiểm do Đạo luật Cải tổ Y tế (the Affordable Care Act [hay Obamacare]) đã giúp đỡ và xoa dịu trước hết những người kém thành công hay không thể tham dự vào nền kinh tế hiện nay. Cắt giảm phạm vi trợ cấp của những chương trình này là một hành vi thiếu nhân ái trong khi tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế đang gia tăng. Và nếu không vì gì khác chăng nữa, thì chính tinh thần vị kỷ sáng suốt (the enlightened self-interest) của những ai đã hưởng lợi nhiều nhất trong một xã hội mang tính năng động tư bản chủ nghĩa chắc chắn sẽ giúp họ nhận ra rằng, nếu không chịu từ bỏ một số thành quả thị trường của mình để đạt được sự ổn định xã hội và kinh tế liên tục, thì đó là một thái độ dại dột. Các chương trình phúc lợi của chính phủ cần phải cải tổ cấu trúc, nhưng cánh Hữu phải chấp nhận rằng một nhà nước phúc lợi rộng lượng hợp lý sẽ còn tồn tại mãi, và tồn tại vì những lý do hết sức hợp lý.
Về phần mình, cánh Tả cần phải tỉnh táo đối diện với thực tế là, những toan tính táo bạo nhằm xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng có thể vừa là quá tốn kém vừa là vô ích. Chính sự thành công của những nỗ lực trong quá khứ nhằm gia tăng sự bình đẳng về cơ hội – như mở rộng cánh cửa giáo dục và cấm hẳn mọi hình thức phân biệt đối xử – mang ý nghĩa là, trong các xã hội tư bản tiên tiến ngày nay, những vựa tiềm năng to lớn và riêng rẽ chưa được khai thác càng ngày càng trở nên hiếm hoi. Vì vậy, việc đưa thêm nhiều biện pháp hơn nữa để cải thiện sự bình đẳng có thể khó đạt được thành quả như các biện pháp đã sử dụng trước đây, trong khi sự tốn kém lại to lớn hơn nhiều. Và nếu những biện pháp này dẫn đến việc lấy mất nguồn lực của những thành phần xã hội có vốn con người phong phú hơn để đưa sang những thành phần thiếu loại vốn này, hoặc không đếm xỉa đến các tiêu chuẩn thành đạt và tài năng, thì chúng sẽ cản trở tính năng động và đà tăng trưởng kinh tế, vốn là nền tảng cho nhà nước phúc lợi hiện nay đứng vững.
Như vậy, thách thức đối với chính sách của chính phủ trong thế giới tư bản tiên tiến là làm thế nào để duy trì một mức độ năng động kinh tế nhằm cung ứng các lợi ích ngày càng to lớn cho tất cả mọi người, đồng thời có thể chi trả những chương trình phúc lợi xã hội cần thiết nhằm làm cho đời sống của người dân dễ thở hơn trong tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế ngày càng gia tăng. Các quốc gia khác nhau sẽ đối phó thách thức này bằng những đường lối khác nhau, vì mỗi quốc gia có những ưu tiên, những truyền thống, có diện tích, và những đặc tính dân số và kinh tế khác nhau. (Một trong những ảo tưởng của thời đại là nghĩ rằng trong vấn đề chính sách của chính phủ, các quốc gia có thể tùy tiện vay mượn mô hình của nhau.) Nhưng một khởi điểm hữu ích có lẽ là, phải từ bỏ cả loại chính trị đặc quyền đặc lợi (the politics of priviledge) lẫn loại chính trị sách động hận thù (the politics of resentment), để chấp nhận một quan điểm rõ ràng về những gì chủ nghĩa tư bản thực sự có liên quan, chứ không mang thái độ lý tưởng hóa của những người sùng bái chủ nghĩa này và thái độ phỉ báng của những người đả kích nó.
_________
Jerry Z. Muller là Giáo sư Sử học tại Catholic University of America và là tác giả cuốn The Mind and the Market: Capitalism in Western Thought (Trí tuệ và Thị trường: Chủ nghĩa Tư bản trong Tư tưởng phương Tây).
Nguồn: Jerry Z. Muller, “Capitalism and Inequality. What
Advertisements

Chủ nghĩa tư bản và tình trạng bất bình đẳng.

Chủ nghĩa tư bản và tình trạng bất bình đẳng. [Cánh Hữu và cánh Tả sai lầm ở những điểm nào]

Tháng 6 25, 2013
Jerry Z. Muller
Trần Ngọc Cư dịch
Dẫn nhập: Trong trận chiến ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, người ta có thể nói không sai là chủ nghĩa tư bản đã thắng. Thậm chí một số nước “cộng sản” như Trung Quốc và Việt Nam cũng đang ôm ấp một dạng thức nào đó của chủ nghĩa tư bản, mà có người gọi là “tư bản nhà nước”, hay một cách mỉa mai “tư bản đỏ”.
Dù dưới dạng thức nào đi nữa, ít ai có thể chối cãi rằng chủ nghĩa tư bản là đường lối hữu hiệu nhất để tạo ra đời sống thịnh vượng kinh tế cho xã hội loài người.
Trong bài tiểu luận sau đây, Giáo sư Jerry Z. Muller phân tích những đặc tính bất biến của chủ nghĩa tư bản, đó là tính năng động kinh tế cũng như tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế – những đặc tính luôn luôn đi với nhau như bóng với hình; như cái Thiện và cái Ác cùng tồn tại một lúc trong thân phận con người. Để đối phó với tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng trong thế giới tư bản tiên tiến, đặc biệt tại Hoa Kỳ, Muller nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì một chính sách nhà nước phúc lợi hợp lý để đảm bảo sự ổn định và hài hòa xã hội, đồng thời chống lại cả loại hình chính trị đặc quyền đặc lợi (politics of privilege) của cánh Hữu lẫn loại hình chính trị sách động hận thù (politics of resentment) của cánh Tả.
Trần Ngọc Cư
Cuộc tranh luận chính trị gần đây tại Hoa Kỳ và các nước dân chủ tư bản tiên tiến khác bị chi phối bởi hai vấn đề: sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng kinh tế và mức độ can thiệp của chính phủ nhằm đối phó vấn đề này. Như cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2012 và những đấu đá chính trị về “bờ vực ngân sách” (the fiscal cliff) đã cho thấy, trọng tâm của cánh Tả hiện nay được dồn vào việc tăng thuế và chi tiêu của chính phủ, chủ yếu để đẩy lùi tình trạng phân hóa giai cấp xã hội đang ngày một gia tăng; trong khi đó, trọng tâm của cánh Hữu được đặt vào việc giảm thuế và cắt giảm chi tiêu, chủ yếu để đảm bảo tính năng động kinh tế. Bên này xem nhẹ những mối quan tâm của bên kia, và mỗi bên đều tỏ ra tin tưởng rằng những chính sách mà mình mong muốn có khả năng đảm bảo sự thịnh vượng và ổn định xã hội. Cả hai bên đều sai lầm.
Tình trạng bất bình đẳng đang thực sự gia tăng gần như khắp nơi trong thế giới tư bản hậu công nghiệp (postindustrial). Và dù cho nhiều người bên cánh Tả có nghĩ gì đi nữa, đây không phải là hậu quả chính trị, và chính trị không thể đảo ngược được nó, vì vấn đề này có gốc rễ sâu xa và bất trị hơn người ta có thể dễ dàng nhận ra. Bất bình đẳng kinh tế là một sản phẩm tất yếu của sinh hoạt tư bản chủ nghĩa, và việc mở rộng cánh cửa bình đẳng về cơ hội cũng chỉ làm tăng thêm tình trạng bất bình đẳng kinh tế mà thôi – vì một số cá nhân và một số cộng đồng giản dị là có khả năng hơn các cá nhân và cộng đồng khác trong việc khai thác những cơ hội mà chủ nghĩa tư bản cung ứng để phát triển và thăng tiến trong đời. Tuy nhiên, dù cho nhiều người bên cánh Hữu có nghĩ gì đi nữa, đây là một vấn đề chung cho tất cả mọi người, chứ không riêng gì cho những người làm ăn thất bát hay những người, trên bình diện ý thức hệ, quyết theo đuổi chủ nghĩa bình quân – bởi vì nếu không được giải quyết, tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế ngày một gia tăng có thể xói mòn trật tự xã hội và tạo ra một một phản ứng dân túy (populist) quật ngược lại hệ thống tư bản chủ nghĩa nói chung.
Trong vài thế kỷ qua, sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một bước nhảy vọt vĩ đại trong tiến bộ loài người, vừa đưa đến những tăng trưởng về mức sống vật chất mà trước đó không ai tưởng tượng nổi, vừa đưa đến sự phát triển mọi tiềm năng chưa từng thấy của con người. Nhưng, tính năng động nội tại trong bản thân chủ nghĩa tư bản lại tạo ra một tình trạng bất an đi kèm với những lợi lộc mà nó mang lại, vì thế sự tiến triển của chủ nghĩa này luôn luôn gặp chống đối. Thật ra, phần lớn lịch sử chính trị và cơ chế của những xã hội tư bản là lịch sử của những nỗ lực làm giảm bớt hoặc ngăn cản tình trạng bất an ấy, và chính việc tạo ra nhà nước phúc lợi (the welfare state) giữa thế kỷ 20 cuối cùng đã giúp chủ nghĩa tư bản và thể chế dân chủ cùng tồn tại tương đối hài hòa.
Trong những thập kỷ gần đây, những phát triển trong lãnh vực công nghệ, tài chánh, và thương mại quốc tế đã tạo ra những làn sóng và hình thái bất an mới cho những nền kinh tế tư bản hàng đầu, làm cho đời sống ngày càng trở nên bất bình đẳng và nhiều rủi ro hơn, không những cho các tầng lớp hạ lưu và giới lao động mà còn cho một bộ phận không nhỏ của giai cấp trung lưu. Cánh Hữu gần như nhắm mắt làm ngơ trước vấn đề này, trong khi cánh Tả ra sức loại bỏ nó bằng hành động của chính phủ, bất chấp phí tổn ngân sách. Cả hai đường lối này đều không khả thi trong dài hạn. Các thể chế tư bản đương đại cần phải chấp nhận rằng tình trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế sẽ tiếp tục là kết quả tất yếu của các hoạt động thị trường và phải tìm cách che chắn người dân khỏi những hậu quả nghiêm trọng của chúng – đồng thời bằng một cách nào đó vẫn duy trì được tính năng động vốn tạo ra những lợi ích kinh tế và văn hóa to lớn của chủ nghĩa tư bản.
Thương phẩm hóa (Commodification) và bồi dưỡng văn hóa
Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống gồm các quan hệ kinh tế và xã hội được xác định bởi quyền tư hữu, bởi việc trao đổi hàng hóa và các dịch vụ do những cá nhân tự do, và bởi việc sử dụng các cơ chế thị trường để kiểm soát việc sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ. Một số yếu tố tư bản chủ nghĩa đã tồn tại trong xã hội loài người qua nhiều thời đại, nhưng mãi đến thế kỷ 17 và 18, tại nhiều nước châu Âu và thuộc địa của chúng tại Bắc Mỹ, các yếu tố này mới kết hợp thành lực lượng. Suốt lịch sử trước đó, gần như mọi hộ gia đình đều tiêu thụ hầu hết những thứ tự mình sản xuất ra và sản xuất hầu hết những thứ mà mình tiêu thụ. Mãi đến thời điểm này, đại đa số dân chúng tại một số nước mới bắt đầu mua hầu hết những thứ mà họ tiêu thụ và họ làm được điều này nhờ số tiền họ thu được từ việc bán hầu hết những thứ mà họ sản xuất.
Sự phát triển các hộ gia đình theo định hướng thị trường (market-oriented households) và cái gọi là “xã hội thương mại” có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi khía cạnh của sinh hoạt loài người. Trước khi có chủ nghĩa tư bản, đời sống con người bị chi phối bởi những định chế truyền thống luôn luôn đặt những lựa chọn và định mệnh của cá nhân dưới sự khống chế của các cơ cấu cộng đồng, chính trị, và tôn giáo khác nhau. Những định chế này cho phép xã hội thay đổi ở mức tối thiểu, ngăn cản không cho người dân tiến bộ nhiều nhưng đồng thời cũng che chắn họ khỏi những dâu bể của cuộc đời. Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản cho các cá nhân nhiều khả năng làm chủ và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình hơn bao giờ hết – điều này vừa khai phóng vừa đáng sợ, khiến cả tiến bộ lẫn thoái hóa đều có thể.
Thương phẩm hóa (commodification) – sự chuyển đổi các hoạt động được thực hiện để sử dụng riêng tư thành các hoạt động được thực hiện để bán trên thị trường mở rộng – cho phép dân chúng sử dụng thì giờ hiệu quả hơn, chuyên biệt hóa trong việc sản xuất những thứ mà họ tương đối rành nghề và mua các thứ khác từ người khác. Các hình thái thương mại và chế tạo mới đã sử dụng sự phân công (division of labor) để sản xuất những mặt hàng gia dụng thông thường với giá rẻ và cũng tạo ra một loạt hàng hóa mới. Như sử gia Jan de Vries nhận xét, kết quả của sự kiện này là điều mà người đương thời gọi là “một sự đánh thức những thèm khát của trí óc” – nới rộng những sở thích cá nhân và tạo ra một cảm thức chủ quan mới mẻ về các nhu cầu. Sự bành trướng nhu cầu đang diễn ra hiện nay đã từng bị những người bài bác chủ nghĩa tư bản từ Rousseau đến Marcuse đả kích là đã giam hãm con người trong chiếc lồng làm bằng những ham muốn phản tự nhiên (unnatural desires). Nhưng nó lại được những người bênh vực kinh tế thị trường từ Voltaire trở về sau ca ngợi là đã mở rộng tiềm năng của con người. Theo quan điểm này, nỗ lực phát triển và đáp ứng những đòi hỏi và nhu cầu cao hơn là yếu tính (essence) của văn minh.
Vì có khuynh hướng coi các thương phẩm (commodities) là vật thể hữu hình, chúng ta thường bỏ qua cái mức độ mà việc tạo ra và phân phối ngày càng rẻ các thương phẩm văn hóa mới đã mở rộng, những gì mà ta có thể gọi là “các phương tiện trau dồi bản thân” (the means of self-cultivation). Vì lịch sử của chủ nghĩa tư bản cũng là lịch sử phát triển truyền thông, thông tin, và giải trí – vừa là phương tiện vừa là đối tượng của tư duy (things to think with, and about).
Trong số những thương phẩm hiện đại xuất hiện sớm nhất, phải kể đến các ấn phẩm (ví dụ đầu tiên là cuốn Kinh Thánh), và việc chúng ngày một rẻ và dễ kiếm còn có ý nghĩa lịch sử hơn cả sự phát triển của máy nổ, chẳng hạn. Điều này cũng đúng với sự phổ biến của giấy in, cho phép nhật báo và tạp chí ra đời. Những phát kiến này lại làm phát sinh các thị trường mới về thông tin và nghề thu thập và phân phối tin tức. Vào thế kỷ 18, việc đưa tin từ Ấn Độ đếnLondonphải mất hàng tháng; ngày nay, chỉ cần trong chốc lát. Sách báo và tin tức đã giúp nới rộng không những tầm hiểu biết mà còn phát triển trí tưởng tượng của chúng ta, khả năng thông cảm với đồng loại và tưởng tượng như thể chính bản thân chúng ta đang được sống trong những lối sống tân kỳ. Chủ nghĩa tư bản và tiến trình thương phẩm hóa vì vậy đã thúc đẩy cả chủ nghĩa nhân đạo lẫn các hình thức mới mẻ trong việc tự phát minh chính mình (new forms of self-invention)
Trong thế kỷ vừa qua, các phương tiện bồi dưỡng văn hoá được phát triển nhờ việc phát minh máy ghi âm, phim ảnh, và truyền hình, và cùng với sự trỗi dậy của Internet và máy vi tính trong nhà, những chi phí của việc tiếp thu kiến thức và văn hoá đã giảm bớt nhanh chóng. Đối với những người nằm trong xu thế này, việc phát triển các phương tiện bồi dưỡng văn hóa đã tạo điều kiện mở mang kiến thức của con người ở mức gần như không thể tưởng tượng nổi.
Gia đình đóng vai trò quan trọng
Tuy nhiên, nếu chủ nghĩa tư bản đã mở ra nhiều cơ hội hơn bao giờ hết cho sự phát triển tiềm năng con người, thì không phải ai cũng có thể tận dụng những cơ hội ấy hay có thể tiến xa hơn nữa sau khi nắm được cơ hội. Chẳng hạn, lịch sử đã chứng minh, nhiều rào cản chính thức hoặc không chính thức đối với sự bình đẳng về cơ hội đã ngăn cản nhiều bộ phận dân chúng khác nhau – như phụ nữ, dân tộc thiểu số, và giới nghèo – không cho phép họ hưởng đầy đủ tất cả những gì mà chủ nghĩa tư bản cống hiến. Nhưng qua thời gian, trong thế giới tư bản tiên tiến, những rào cản ấy đã dần dần được hạ thấp hay tháo gỡ, nhờ vậy ngày nay người ta có thể tiếp cận cơ hội đồng đều hơn bao giờ hết. Tình trạng bất bình đẳng đang tồn tại ngày nay, do đó, phát sinh vì thiếu cơ hội đồng đều thì ít, mà vì khả năng không đồng đều trong việc khai thác cơ hội thì nhiều. Và khả năng không đồng đều đó lại phát xuất từ những khác biệt trong tiềm năng bẩm sinh mà các cá nhân có từ khi chào đời và trong cung cách mà gia đình và cộng đồng giúp đỡ và khuyến khích tiềm năng con người phát triển.
Trong việc hình thành khả năng và khuynh hướng của cá nhân để vận dụng các phương tiện bồi dưỡng văn hóa mà chủ nghĩa tư bản cung ứng, đề cao vai trò của gia đình đến đâu cũng không đủ. Hộ gia đình không chỉ là nơi tiêu thụ và truyền giống. Nó còn là bối cảnh chính trong đó trẻ em được xã hội hóa, được giáo dục, và trở thành văn minh, trong đó các thói quen của chúng được phát triển để sau đó lại ảnh hưởng đến số phận chúng trong tư cách người dân và tác nhân thị trường Theo ngôn ngữ của kinh tế học đương đại, gia đình là mộtworkshop (phân xưởng) trong đó vốn con người (human capital) được tạo ra.
Qua thời gian, gia đình đã ảnh hưởng đến chủ nghĩa tư bản bằng cách tạo ra những nhu cầu mới đối với những hàng hoá mới. Gia đình cũng thường xuyên bị chủ nghĩa tư bản khuôn nắn vì những hàng hóa mới và phương tiện sản xuất mới đã thúc đẩy các thành viên trong gia đình sử dụng thời gian theo lối mới. Vào thế kỷ 18, khi các hàng tiêu thụ mới bắt đầu xuất hiện với giá rẻ hơn bao giờ hết, các hộ gia đình dồn nhiều thì giờ hơn cho các hoạt động theo xu thế thị trường, với tác động tích cực đến khả năng tiêu thụ của họ. Mặc dù ban đầu đồng lương của đàn ông có lẽ đã thực sự suy giảm, nhưng lương của cả vợ, chồng, con cái cộng lại đã nâng tiêu chuẩn tiêu thụ (standards of consumption) cao hơn trước. Nhưng, việc tăng trưởng kinh tế và mở rộng các chân trời văn hóa không cải thiện mọi phương diện của đời sống cho mọi người. Việc con cái của giai cấp lao động có thể kiếm tiền từ tuổi vị thành niên đã khuyến khích chúng sao lãng học hành và sự thiếu lành mạnh của một số hàng hoá mới xuất hiện (bánh mì trắng, đường, thuốc lá, rượu mạnh) cho thấy tiêu chuẩn tiêu thụ tăng cao không luôn luôn đồng nghĩa với sự cải thiện sức khỏe và tuổi thọ con người. Và khi thời gian lao động của người phụ nữ được tái phối trí từ việc phục vụ gia đình sang phục vụ thị trường, các tiêu chuẩn vệ sinh có vẻ suy giảm, gia tăng rủi ro bệnh tật.
Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, người ta chứng kiến sự phát triển từng bước của các phương tiện sản xuất mới khắp các khu vực kinh tế. Đây là thời đại cơ khí, có đặc tính là các nguồn lực vô cơ (chủ yếu là máy hơi nước) ngày càng thay thế các nguồn lực hữu cơ (người và súc vật), một tiến trình đã gia tăng năng suất rất lớn. Khác hẳn trong một xã hội chủ yếu dựa vào nông nghiệp và tiểu công nghệ gia đình, việc chế tạo hàng hoá bây giờ ngày càng diễn ra trong những công xưởng được xây dựng chung quanh các cỗ máy tân kỳ nhưng quá kềnh càng, quá ồn ào, và quá dơ bẩn, không thể chứa trong nhà. Công ăn việc làm do đó ngày càng tách khỏi hộ gia đình, một chuyển biến rốt cuộc đã thay đổi cơ cấu gia đình.
Thoạt đầu, các chủ nhân của những nhà máy công nghiệp hóa mới mẻ này đã tuyển dụng phụ nữ và trẻ em vào làm công nhân vì họ là những người dễ sai bảo và dễ kỷ luật hơn đàn ông. Nhưng vào nửa sau của thế kỷ 19, người nam công nhân trung bình ở Anh được hưởng sự gia tăng đáng kể và bền vững của đồng lương đích thực; vì vậy, một sự phân công mới đã diễn ra ngay trong phạm vi gia đình, theo đường ranh giới tính. Nhờ sức mạnh thể chất cho họ một ưu thế tương đối trong việc sản xuất, nam giới ngày càng làm việc đông đảo trong các nhà máy với đồng lương thị trường đủ cao để nuôi cả gia đình. Tuy vậy, thị trường của thế kỷ 19 chưa thể cung cấp những hàng hóa để tạo ra sự sạch sẽ, vệ sinh, các bữa ăn bổ dưỡng, và việc trông nom chu đáo các trẻ em. Trong giới thượng lưu, những dịch vụ này có thể được đầy tớ cung ứng. Nhưng đối với hầu hết mọi gia đình, những dịch vụ này ngày càng được các bà vợ cung ứng. Tình trạng này đã phát sinh ra mô hình gia đình chồng đi kiếm cơm – vợ lo nội trợ (the breadwinner-homemaker family), dựa trên sự phân công theo giới tính. Theo de Vries, nhiều cải tiến về sức khỏe, tuổi thọ, và giáo dục từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, có thể được lý giải bởi việc tái phân bố (realloacation) lực lượng lao động phụ nữ từ thị trường về với hộ gia đình và, sau cùng, tái phân bố giới thiếu niên từ thị trường về với học đường, khi trẻ em rời bỏ lực lượng lao động để đến trường.
Tính năng động và sự bất an
Trong phần lớn lịch sử nhân loại, cội nguồn chính cho nỗi bất an của con người là thiên nhiên. Như Marx nhận xét, trong những xã hội như thế, hệ thống kinh tế hướng đến ổn định – và bế tắc. Những xã hội tư bản, trái lại, từ trước đến nay vẫn hướng tới sáng kiến và tính năng động, tới sự sáng tạo tri thức mới, sản phẩm mới, phương thức sản xuất và phân phối mới. Tất cả những điều đó đã chuyển vị trí của tình trạng bất an từ thiên nhiên sang kinh tế.
Hegel đã nhận xét vào những năm 1820 rằng đối với con người trong một xã hội thương mại đặt cơ sở trên mô hình chồng kiếm cơm-vợ lo việc nhà (the breadwinner-homemaker model), ý thức về giá trị bản thân và thế giá của mỗi người được gắn liền với công ăn việc làm. Điều này đặt ra một vấn đề, vì trong một nền kinh tế thị trường tư bản năng động, thất nghiệp là một khả năng hiển nhiên. Sự phân công lao động do thị trường tạo ra có nghĩa là nhiều công nhân có các kỹ năng được chuyên biệt hóa cao độ (highly specialized) và chỉ thích hợp với một số công việc rất hạn hẹp. Thị trường tạo ra những nhu cầu thường xuyên thay đổi, và do đó khi nhu cầu đối với sản phẩm mới gia tăng thì nhu cầu đối với sản phẩm cũ giảm bớt. Những người có cuộc đời gắn bó với một vai trò nhất định trong việc sản xuất ra những sản phẩm lỗi thời thường bị thất nghiệp và không có tay nghề để kiếm việc làm mới. Và việc cơ giới hóa hoạt động sản xuất cũng dẫn đến nạn thất nghiệp. Nói cách khác, ngay từ lúc khởi đầu, tính sáng tạo và sự đổi mới trong chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã đi đôi với nỗi bất an của các thành viên trong lực lượng lao động như bóng với hình.
 
Marx và Engels đã phác họa tính năng động, nỗi bất an, sự cải tiến các nhu cầu, và việc mở rộng các khả năng văn hóa của chủ nghĩa tư bản trong Tuyên ngôn Cộng sản như sau:
“Thông qua việc bóc lột thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã cho sản xuất và tiêu dùng một tính chất quốc tế. Nó rút phắt nền tảng quốc gia trụ dưới chân công nghiệp, khiến các thế lực phản động cực kỳ khó chịu. Các ngành công nghiệp quốc gia lâu đời đã bị tiêu diệt và đang hàng ngày bị tiêu diệt. Chúng bị choán chỗ bởi những ngành công nghiệp mới mà sự xuất hiện trở thành một vấn đề sống còn với mọi quốc gia văn minh, những ngành công nghiệp không còn sử dụng nguyên liệu bản xứ mà sử dụng nguyên liệu khai thác từ những vùng xa xôi nhất, những ngành công nghiệp mà sản phẩm được tiêu thụ không chỉ trong nước mà ở khắp mọi nơi trên hoàn cầu. Thay cho những nhu cầu cũ được thỏa mãn bằng sản phẩm nội địa, chúng ta thấy những nhu cầu mới, đòi được thỏa mãn bằng các sản phẩm từ các vùng đất và vùng khí hậu xa xôi. Thay cho sự cô lập và tự túc cố hữu của địa phương và quốc gia là giao lưu mọi hướng và sự phụ thuộc phổ quát giữa các quốc gia.”
Đến thế kỷ 20, nhà kinh tế Joseph Schumpeter sẽ triển khai trên những luận điểm này cái ý niệm cho rằng chủ nghĩa tư bản có đặc tính “hủy hoại sáng tạo”, trong đó các sản phẩm, các hình thức phân phối và tổ chức mới sẽ đào thải các hình thức cũ hơn. Nhưng khác với Marx, là người chỉ thấy nguồn gốc của tính năng động này trong cuộc tìm kiếm “tư bản” quái gở (mà ông cho là bóc lột giai cấp công nhân), Schumpeter tập trung vào vai trò của doanh nhân là người có sáng kiến, biết đưa vào thị trường các hàng hóa mới và khám phá các thị trường và các phương pháp mới.
Tính năng động và tình trạng bất an do chủ nghĩa tư bản công nghiệp thế kỷ 19 tạo ra đã dẫn đến sự thành lập các định chế mới để giảm bớt bấp bênh kinh tế, bao gồm tập đoàn trách nhiệm hữu hạn, nhằm giảm bớt rủi ro cho người đầu tư; các công đoàn, nhằm cải tiến lợi ích của người lao động; các hội tương trợ, nhằm cho vay nợ và cung cấp bảo hiểm chôn cất (burial insurance); và ngành bảo hiểm nhân thọ thương mại. Vào những thập niên giữa thế kỷ 20, nhằm đối phó nạn thất nghiệp tràn lan và cảnh khốn cùng do cuộc Đại khủng hoảng kinh tế gây ra (cũng như do sự thành công chính trị của chủ nghĩa cộng sản và phát-xít, một sự thành công đã thuyết phục nhiều nhà dân chủ rằng một tình trạng quá bấp bênh về kinh tế là mối đe dọa cho chính bản thân thể chế dân chủ tư bản chủ nghĩa), các nước dân chủ phương Tây đã chọn chính sách nhà nước phúc lợi (the welfare state). Nhiều quốc gia khác nhau đã sáng tạo nhiều kết hợp khác nhau gồm các chương trình cụ thể, nhưng các nhà nước phúc lợi mới mẻ này có nhiều điểm giống nhau, trong đó có chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm thất nghiệp cũng như nhiều biện pháp khác nhau để hỗ trợ các gia đình.
Sự bành trướng của nhà nước phúc lợi vào những thập niên sau Thế chiến II đã diễn ra vào một thời điểm mà các nền kinh tế tư bản đang tăng trưởng nhanh chóng. Sự thành công của nền kinh tế công nghiệp đã cho phép chuyển một số lợi nhuận và tiền lương vào các mục đích chính phủ thông qua việc đánh thuế. Sự phát triển dân số thời hậu chiến, trong đó mô hình gia đình chồng đi làm-vợ nội trợ (the breadwinner-home maker model) chiếm số đông, cũng rất phù hợp, vì tỉ lệ sinh cao vừa phải đã tạo ra một tỉ lệ thích hợp giữa số công nhân năng động và những người lệ thuộc [vợ con]. Cánh cửa cơ hội giáo dục được mở rộng, khi các đại học ưu tú gia tăng việc nhận sinh viên căn cứ vào thành tích học tập và tiềm năng của họ, và càng ngày càng có nhiều người theo học tại các cơ sở giáo dục cấp cao hơn. Các rào cản không cho phép phụ nữ và người thiểu số tham gia trọn vẹn vào đời sống xã hội cũng bắt đầu sụp đổ. Kết quả của tất cả những điều đó là một tình trạng quân bình tạm thời, trong đó các nước tư bản tiên tiến trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đa số dân chúng có công ăn việc làm, và tương đối có bình đẳng kinh tế-xã hội.

Gia-đình, Cộng-đồng và Vốn Con Người

    

Jerry MullerForeign Affairs, tháng Ba/tháng Tư, 2013

Trần Ngọc Cư dịch

Lời người dịch: Vì bài tiểu luận “Capitalism and Inequality” (Chủ nghĩa tư bản và Tình trạng bất bình đẳng) của Giáo sư Sử học Jerry Muller, Đại học Catholic University of America, dài đến 20 trang, chúng tôi chỉ xin trích dịch phần của bài tiểu luận nói về vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc xây dựng vốn con người. Tựa đề là của người dịch.

Trong môi trường toàn cầu hóa, tài chính hóa, hậu công nghiệp ngày nay, vốn con người (human capital) là quan trọng hơn bao giờ cả trong việc quyết định những cơ may trong đời. Sự kiện này cũng làm cho vai trò của gia đình trở nên quan trọng hơn trước, vì như mọi thế hệ xã hội học lại cứ phát hiện lại một điều cũ rích (khiến chính họ cũng phải lấy làm tiu nghỉu), đó là các nguồn lực do gia đình truyền lại cho con cái có xu thế định đoạt rất nhiều cho sự thành công ở nhà trường và nơi làm việc. Như chuyên gia kinh tế Friedrich Hayek đã vạch ra nửa thế kỷ trước trong cuốn The Constitution of Liberty (Cơ cấu của Tự do), trở ngại chính cho sự bình đẳng về cơ hội là ta không thể tìm ra được một cơ chế tốt hơn để thay thế những vị phụ huynh thông minh hay những gia đình biết bồi dưỡng tình cảm và văn hóa cho con cái. Theo một nghiên cứu gần đây của hai nhà kinh tế Pedro Carneiro và James Heckman, “Những khác biệt về trình độ kỹ năng nhận thức (cognitive skills) và các kỹ năng không thuộc lãnh vực nhận thức (noncognitve skills)(*) xuất hiện sớm trong đời người và tồn tại mãi. Có chăng là, học vấn chỉ đào sâu thêm những khác biệt đầu đời này mà thôi”.

Vốn di truyền nằm dưới nhiều dạng thức khác nhau: cơ cấu gien (genetics), sự nuôi dưỡng trước và sau khi đứa trẻ sinh ra, và các định hướng văn hóa được truyền đạt trong gia đình. Hẳn nhiên, tiền bạc cũng quan trọng, nhưng thường không quan trọng bằng những yếu tố gần như không liên quan đến tiền bạc này. (Sự hiện hữu nổi bật của sách báo trong một hộ gia đình là dấu hiệu con cái đạt điểm cao ở học đường, chứ không phải là lợi tức của gia đình đó). Qua thời gian, nếu xã hội được tổ chức dựa vào chế độ nhân tài, vốn di truyền gia đình và phần thưởng thị trường sẽ có có xu thế gắn bó với nhau.

Những cha mẹ có học vấn thường có khuynh hướng đầu tư thêm thì giờ và năng lực cho việc chăm sóc con cái, thậm chí khi cả cha lẫn mẹ đều bận việc ở sở làm. Và những gia đình có vốn con người phong phú có khả năng sử dụng hiệu quả hơn những phương tiện giáo dục cải tiến mà chủ nghĩa tư bản đương đại cống hiến (chẳng hạn tiềm năng bồi dưỡng tri thức qua Internet) đồng thời chống lại những cạm bẫy tiềm ẩn (như xem TV và chơi các trò chơi vi tính).

Sự kiện này ảnh hưởng lên khả năng của trẻ em trong việc vận dụng nền giáo dục chính thức ở nhà trường, một nền giáo dục ít ra cũng có tiềm năng ngày càng mở rộng để đón tiếp mọi người, bất chấp địa vị kinh tế hay sắc tộc. Vào đầu thế kỷ 20, chỉ có 6,4 % trẻ em Mỹ hoàn tất bậc trung học, và chỉ một trong 400 người tiếp tục lên đại học. Như vậy, thời bấy giờ một bộ phận dân chúng rất đông đảo có khả năng trí óc, nhưng không có cơ hội, để theo đuổi các bằng cấp cao. Ngày nay, tỉ số học sinh Mỹ hoàn tất bậc trung học là khoảng 75% (xuống từ đỉnh cao 80% năm 1960), và khoảng 40% thanh niên đăng ký theo học đại học.

Tờ The Economist gần đây đã nhai lại một quan niệm lỗi thời: “Trong một xã hội có cơ hội đồng đều rộng rãi, địa vị của cha mẹ trên thang lợi tức sẽ không ảnh hưởng mấy lên nấc thang lợi tức của con cái họ về sau”. Nhưng sự thật là, càng có cơ hội đồng đều do cơ chế tạo ra bao nhiêu, thì các di sản thuộc vốn con người của gia đình lại càng quan trọng bấy nhiêu. Như nhà khoa học chính trị Edward Banfield nhận xét một thế hệ trước đây trong cuốn The Unheavenly City Revisited [một tác phẩm duyệt xét lại các vấn đề đô thị Mỹ – TNC], “Toàn bộ nền giáo dục luôn ưu đãi trẻ em thuộc giai cấp trung lưu hoặc thượng lưu, vì ở vào giai cấp trung lưu hay thượng lưu có nghĩa là hưởng được những phẩm chất tốt đẹp giúp cho việc học tập đặc biệt dễ dàng”. Những cải tiến về phẩm chất trường học có thể cải thiện thành quả giáo dục nói chung, nhưng chúng có xu thế làm gia tăng, chứ không giảm bớt, khoảng cách thành đạt giữa con em xuất thân từ những gia đình có vốn con người chênh lệch nhau. Những nghiên cứu gần đây với mục đích chứng minh rằng tại Hoa Kỳ ngày nay sự thăng tiến xã hội giữa các thế hệ (intergenerational mobility) ít diễn ra hơn so với trong quá khứ (hay so với tại một số quốc gia châu Âu), đã không thấy được rằng sự kiện này thật ra có thể chỉ là sản phẩm trớ trêu [của các nỗ lực chính phủ] qua nhiều thế hệ nhằm gia tăng bình đẳng về cơ hội. Và trong khía cạnh này, có thể Hoa Kỳ chỉ là nước dẫn đầu trong các xu thế cũng được tìm thấy tại các nước tư bản tiên tiến khác.

Gia đình không phải là cơ chế xã hội duy nhất có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển vốn con người và đối với sự thành công nhiên hậu trong thị trường; các nhóm cộng đồng, như các cộng đồng tôn giáo, chủng tộc và dân tộc cũng có một ảnh hưởng tương tự. Trong cuốn sách xuất bản năm 1905, The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (Đức lý Tin lành và Tinh thần Tư bản chủ nghĩa), nhà xã hội học Max Weber nhận xét rằng trong các khu vực tôn giáo khác nhau, người Tin Lành làm kinh tế giỏi hơn người Công giáo, và người theo Giáo phái Calvin (Calvinists) thành công hơn người theo Giáo phái Luther (Lutherans). Weber đưa ra một một lý giải mang tính văn hóa cho sự khác biệt này, một sự khác biệt có gốc rễ trong những khuynh hướng tâm lý do các đức tin khác nhau này tạo ra. Vài năm sau, trong cuốn The Jews and Modern Capitalism (Người Do Thái và Chủ nghĩa Tư bản Hiện đại), Werner Sombart, người đồng thời với Weber, đưa ra một lý giải khác hơn cho sự thành công của các nhóm khác nhau, bằng cách một phần dựa vào các khuynh hướng văn hóa và một phần dựa vào các khuynh hướng chủng tộc. Và đến năm 1927, Schumpeter, một đồng nghiệp trẻ hơn của họ đã đặt tựa đề cho một bài tiểu luận quan trọng là “Giai cấp xã hội trong một môi trường thuần chủng (ethnically homogeneous)”, vì ông đinh ninh rằng trong một bối cảnh hợp chủng, các mức độ thành đạt thay đổi theo từng sắc dân, chứ không chỉ theo giai cấp xã hội mà thôi.

Những lý giải được đưa ra cho những mô hình nói trên là không quan trọng bằng thực tế là, mức thành đạt khác nhau giữa các nhóm vẫn là một đặc điểm bất diệt trong lịch sử của chế độ tư bản, và những chênh lệch này vẫn tiếp tục tồn tại ngày nay. Tại Hoa Kỳ đương đại, chẳng hạn, người châu Á (đặc biệt khi không kể đến các sắc dân hải đảo Thái Bình Dương) có xu thế thành đạt hơn người da trắng bản xứ (non-Hispanic whites), người da trắng bản xứ lại thành đạt hơn người da trắng gốc châu Mỹ La tinh (Hispanic whites), người châu Mỹ La tinh lại thành đạt hơn người Mỹ gốc châu Phi [người da đen]. Đây là sự thật dù ta nhìn vào sự thành đạt về học vấn, vào lợi tức, hay nhìn vào các loại hình gia đình, như các trường hợp sinh con ngoại hôn chẳng hạn.

Những quốc gia Tây Âu (và nhất là những quốc gia Bắc Âu), với những trình độ bình đẳng kinh tế còn cao hơn Mỹ nhiều, thông thường là những nước có những khối dân thuần chủng hơn Mỹ. Khi những đợt dân nhập cư gần đây làm cho nhiều nước tiên tiến hậu công nghiệp giảm bớt tính thuần chủng so với trước, chúng cũng có vẻ phân hoá giai cấp theo các đường ranh cộng đồng, với một số nhóm dân nhập cư biểu hiện những mô hình thành công hơn khối dân cư hiện hữu từ trước và một số nhóm khác lại ít thành công hơn. Tại Vương quốc Anh chẳng hạn, con cái những người Trung Hoa và người Ấn Độ nhập cư thường thành công hơn dân bản xứ, trong khi con cái của người da đen từ vùng Ca-ri-bê (Caribbean blacks) và người Pakistan thường thua kém hơn. Tại Pháp, con cái của người Việt Nam nhập cư thường thành công hơn con cái người bản xứ, và con cái của các sắc dân Bắc Phi lại thua kém hơn. Tại Israel, con cái của người Nga nhập cư thường thành công hơn người bản xứ, trong khi con cái của những người nhập cư từ Ethiopia lại thua kém hơn. Tại Canada, con cái người Trung Hoa và người Ấn Độ thường thành công hơn con cái dân bản xứ, trong khi con cái của dân nhập cư từ vùng Ca-ri-bê và châu Mỹ La tinh lại thua kém hơn. Phần lớn sự chênh lệnh trong mức độ thành công này có thể được giải thích bằng thành phần giai cấp và quá trình đào tạo khác nhau của các nhóm nhập cư ngay tại cố quốc của họ. Nhưng vì bản thân những cộng đồng nhập cư này đã đóng vai trò là nơi cưu mang vốn con người, những mô hình về sự thành đạt này có khả năng và vẫn còn tồn tại qua thời gian và không gian.

Trong trường hợp Hoa Kỳ, chính sách di trú của nước này đã đóng một một vai trò thậm chí còn lớn hơn trong việc làm nghiêm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng, vì tính năng động kinh tế, sự cởi mở văn hóa, và địa thế của nước Mỹ có xu thế thu hút một số người tài giỏi và thông minh nhất thế giới lẫn một số người ít học nhất thế giới. Sự thể này đã nâng chóp bu của thang kinh tế lên cao và hạ phần dưới cùng xuống thấp hơn nữa.

Sự nhìn nhận ngày càng rộng lớn về tình trạng bất bình đẳng và phân hóa giai cấp xã hội đang gia tăng tại các nước hậu công nghiệp đương nhiên đã đưa đến các cuộc thảo luận về những điều có thể thực hiện để đối phó vấn đề này. Trong bối cảnh của Hoa Kỳ, câu trả lời đến từ hầu hết mọi thành phần xã hội thật là đơn giản: giáo dục.

Một chủ đề của lý luận này tập trung vào giáo dục đại học. Theo đó, hiện nay có một khoảng cách đang gia tăng về những cơ may trong đời giữa những người tốt nghiệp đại học và những người không tốt nghiệp, và vì thế cần phải có càng nhiều người vào đại học càng tốt. Đáng tiếc là, mặc dù một tỉ lệ phần trăm người Mỹ cao hơn trước đang theo đuổi bậc đại học, nhưng họ không nhất thiết học hỏi nhiều hơn. Một con số ngày càng đông đảo không đủ khả năng học tập ở cấp đại học, nhiều người phải rời ghế nhà trường trước khi hoàn tất học vị, và nhiều người khác nhận những bằng cấp chỉ phản ánh những tiêu chuẩn thấp hơn trình độ mà người ta thường cho là một cấp bằng đại học phải có.

Trong khi đó, mức chênh lệch đáng kể nhất trong sự thành tựu ở học đường diễn ra sớm hơn bậc đại học, được biểu hiện trong tỉ lệ hoàn tất bậc trung học, và những chênh lệnh quan trọng trong thành tích học tập (giữa các giai cấp xã hội khác nhau và giữa các sắc tộc khác nhau) còn xuất hiện sớm hơn, ngay từ cấp tiểu học. Do đó, một chủ đề thứ hai của cuộc tranh luận giáo dục tập trung vào bậc tiểu học và trung học. Những phương thức chữa trị được đề xuất ở đây gồm có: cung cấp thêm tiền cho các trường học, cho phụ huynh nhiều lựa chọn hơn, kiểm tra bài vở của học sinh thường xuyên hơn, và cải thiện hiệu năng của giáo viên. Thậm chí nếu một số hoặc toàn bộ các biện pháp này là đáng mong muốn vì những lý do khác đi nữa, không một biện pháp nào chứng tỏ đã giảm bớt khoảng cách giữa các học sinh và giữa các nhóm xã hội – vì bản thân nền giáo dục chính thức ở nhà trường (official schooling) đóng một vai trò tương đối nhỏ bé trong việc tạo ra hoặc duy trì các khoảng cách thành đạt (achievement gaps).

Thật ra những khoảng cách này có nguồn gốc trong những mức vốn con người khác nhau (different levels of human capital) mà trẻ em thừa hưởng khi chúng bắt đầu đi học – điều này đã dẫn đến một chủ đề thứ ba của cuộc tranh luận giáo dục, tập trung vào việc chăm sóc tuổi thơ ấu của trẻ em sớm hơn và tích cực hơn. Những đề xuất ở đây thường dẫn đến việc đưa trẻ em ra khỏi môi trường gia đình và đặt chúng vào những bối cảnh mang tính cơ chế (institutional settings) càng dài thời gian càng tốt (như chương trình Head Start, Early Head Start /cho trẻ em đi học sớm) hay thậm chí cố gắng tái xã hội hoá toàn bộ những khu dân sinh (như trong dự án Khu vực của Trẻ em Harlem/the Harlem Children’s Zone project). Có một số trường hợp thành công riêng lẻ với những chương trình này, nhưng không ai quả quyết là chúng có thể được nhân rộng trên một qui mô lớn hơn. Nhiều chương trình cho thấy kết quả ngắn hạn về khả năng nhận thức, nhưng hầu hết những thành quả này có xu thế mai một qua thời gian, và những thành quả còn sót lại thường là không đáng kể. Có một điều khả tín hơn là, những chương trình này giúp trẻ em trau dồi các kỹ năng không thuộc lãnh vực nhận thức và những đặc điểm nhân cách có thể dẫn đến thành công kinh tế tương lai – nhưng với một cái giá và nỗ lực đầu tư đáng kể, vì phải sử dụng các nguồn lực được rút tỉa từ những bộ phận thành công hơn trong xã hội (và như thế làm suy yếu các nguồn lực mà họ có thể sử dụng) hay các nguồn lực được chuyển từ các dự án tiềm năng khác.

Dù với tất cả những lý do này, tình trạng bất bình đẳng trong các xã hội tư bản tiên tiến đang có vẻ vừa gia tăng vừa không tránh khỏi, chí ít trong giai đoạn hiện nay. Thật vậy, một trong những khám phá thẳng thắn nhất của ngành nghiên cứu khoa học xã hội đương đại là, một khi sự cách biệt giữa các gia đình có lợi tức cao và những gia đình có lợi tức thấp đã gia tăng, thì những cách biệt trong sự thành đạt về học vấn và công ăn việc làm giữa con cái họ lại càng gia tăng hơn nữa.

J. M.

Chú thích:

(*)(1) Ở một đoạn khác trong bài tiểu luận, không được trích dịch ở đây, tác giả đã định nghĩa cognitive skills là “sự nhanh trí, khả năng suy luận và áp dụng các mô hình rút từ kinh nghiệm, và khả năng đối phó với tính phức tạp trí tuệ” và noncognitive skills là “các kỹ năng xã hội: tinh thần kỷ luật, đức tính kiên trì và tinh thần trách nhiệm” (TNC).

Bản tiếng Anh

THE FAMILY AND HUMAN CAPITAL

In today’s globalized, financialized, postindustrial environment, human capital is more important than ever in determining life chances. This makes families more important, too, because as each generation of social science researchers discovers anew (and much to their chagrin), the resources transmitted by the family tend to be highly determinative of success in school and in the workplace. As the economist Friedrich Hayek pointed out half a century ago in The Constitution of Liberty, the main impediment to true equality of opportunity is that there is no substitute for intelligent parents or for an emotionally and culturally nurturing family. In the words of a recent study by the economists Pedro Carneiro and James Heckman, “Differences in levels of cognitive and noncognitive skills by family income and family background emerge early and persist. If anything, schooling widens these early differences.”

Hereditary endowments come in a variety of forms: genetics, prenatal and postnatal nurture, and the cultural orientations conveyed within the family. Money matters, too, of course, but is often less significant than these largely nonmonetary factors. (The prevalence of books in a household is a better predictor of higher test scores than family income.) Over time, to the extent that societies are organized along meritocratic lines, family endowments and market rewards will tend to converge.

Educated parents tend to invest more time and energy in child care, even when both parents are engaged in the work force. And families strong in human capital are more likely to make fruitful use of the improved means of cultivation that contemporary capitalism offers (such as the potential for online enrichment) while resisting their potential snares (such as unrestricted viewing of television and playing of computer games).

This affects the ability of children to make use of formal education, which is increasingly, at least potentially, available to all regardless of economic or ethnic status. At the turn of the twentieth century, only 6.4 percent of American teenagers graduated from high school, and only one in 400 went on to college. There was thus a huge portion of the population with the capacity, but not the opportunity, for greater educational achievement. Today, the U.S. high school graduation rate is about 75 percent (down from a peak of about 80 percent in 1960), and roughly 40 percent of young adults are enrolled in college.

The Economist recently repeated a shibboleth: “In a society with broad equality of opportunity, the parents’ position on the income ladder should have little impact on that of their children.” The fact is, however, that the greater equality of institutional opportunity there is, the more families’ human capital endowments matter. As the political scientist Edward Banfield noted a generation ago in The Unheavenly City Revisited, “All education favors the middle- and upper-class child, because to be middle- or upper-class is to have qualities that make one particularly educable.” Improvements in the quality of schools may improve overall educational outcomes, but they tend to increase, rather than diminish, the gap in achievement between children from families with different levels of human capital. Recent investigations that purport to demonstrate less intergenerational mobility in the United States today than in the past (or than in some European nations) fail to note that this may in fact be a perverse product of generations of increasing equality of opportunity. And in this respect, it is possible that the United States may simply be on the leading edge of trends found in other advanced capitalist societies as well.

DIFFERENTIAL GROUP ACHIEVEMENT

The family is not the only social institution to have a major impact on the development of human capital and eventual success in the marketplace; so do communal groupings, such as those of religion, race, and ethnicity. In his 1905 book, The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism, the sociologist Max Weber observed that in religiously diverse areas, Protestants tended to do better economically than Catholics, and Calvinists better than Lutherans. Weber presented a cultural explanation for this difference, grounded in the different psychological propensities created by the different faiths. A few years later, in The Jews and Modern Capitalism, Weber’s contemporary Werner Sombart offered an alternative explanation for differential group success, based partly on cultural propensities and partly on racial ones. And in 1927, their younger colleague Schumpeter titled a major essay “Social Classes in an Ethnically Homogeneous Environment” because he took it for granted that in an ethnically mixed setting, levels of achievement would vary by ethnicity, not just class.

The explanations offered for such patterns are less important than the fact that differential group performance has been a perennial feature in the history of capitalism, and such differences continue to exist today. In the contemporary United States, for example, Asians (especially when disaggregated from Pacific Islanders) tend to outperform non-Hispanic whites, who in turn tend to outperform Hispanics, who in turn tend to outperform African Americans. This is true whether one looks at educational achievement, earnings, or family patterns, such as the incidence of nonmarital births.

Those western European nations (and especially northern European nations) with much higher levels of equality than the United States tend to have more ethnically homogeneous populations. As recent waves of immigration have made many advanced post­industrial societies less ethnically homogeneous, they also seem to be increasingly stratifying along communal lines, with some immigrant groups exhibiting more favorable patterns than the preexisting population and other groups doing worse. In the United Kingdom, for example, the children of Chinese and Indian immigrants tend do better than the indigenous population, whereas those of Caribbean blacks and Pakistanis tend to do worse. In France, the descendants of Vietnamese tend to do better, and those of North African origin tend to do worse. In Israel, the children of Russian immigrants tend to do better, while those of immigrants from Ethiopia tend to do worse. In Canada, the children of Chinese and Indians tend to do better, while those of Caribbean and Latin American origin tend to do worse. Much of this divergence in achievement can be explained by the differing class and educational backgrounds of the immigrant groups in their countries of origin. But because the communities themselves act as carriers and incubators of human capital, the patterns can and do persist over time and place.

In the case of the United States, immigration plays an even larger role in exacerbating inequality, for the country’s economic dynamism, cultural openness, and geographic position tend to attract both some of world’s best and brightest and some of its least educated. This raises the top and lowers the bottom of the economic ladder.

WHY EDUCATION IS NOT A PANACEA

A growing recognition of the increasing economic inequality and social stratification in postindustrial societies has naturally led to discussions of what can be done about it, and in the American context, the answer from almost all quarters is simple: education.

One strand of this logic focuses on college. There is a growing gap in life chances between those who complete college and those who don’t, the argument runs, and so as many people as possible should go to college. Unfortunately, even though a higher percentage of Americans are attending college, they are not necessarily learning more. An increasing number are unqualified for college-level work, many leave without completing their degrees, and others receive degrees reflecting standards much lower than what a college degree has usually been understood to mean.

The most significant divergence in educational achievement occurs before the level of college, meanwhile, in rates of completion of high school, and major differences in performance (by class and ethnicity) appear still earlier, in elementary school. So a second strand of the education argument focuses on primary and secondary schooling. The remedies suggested here include providing schools with more money, offering parents more choice, testing students more often, and improving teacher performance. Even if some or all of these measures might be desirable for other reasons, none has been shown to significantly diminish the gaps between students and between social groups — because formal schooling itself plays a relatively minor role in creating or perpetuating achievement gaps.

The gaps turn out to have their origins in the different levels of human capital children possess when they enter school — which has led to a third strand of the education argument, focusing on earlier and more intensive childhood intervention. Suggestions here often amount to taking children out of their family environments and putting them into institutional settings for as much time as possible (Head Start, Early Head Start) or even trying to resocialize whole neighborhoods (as in the Harlem Children’s Zone project). There are examples of isolated successes with such programs, but it is far from clear that these are reproducible on a larger scale. Many programs show short-term gains in cognitive ability, but most of these gains tend to fade out over time, and those that remain tend to be marginal. It is more plausible that such programs improve the noncognitive skills and character traits conducive to economic success — but at a significant cost and investment, employing resources extracted from the more successful parts of the population (thus lowering the resources available to them) or diverted from other potential uses.

For all these reasons, inequality in advanced capitalist societies seems to be both growing and ineluctable, at least for the time being. Indeed, one of the most robust findings of contemporary social scientific inquiry is that as the gap between high-income and low-income families has increased, the educational and employment achievement gaps between the children of these families has increased even more.

Đổ Xăm Hường

Lê Duy Đoàn

XĂM HƯỜNG

MỘT TRÒ CHƠI TAO NHÃ VÀ VUI VẺ TRONG NGÀY TẾT

CỦA NGƯỜI DÂN XỨ HUẾ VÀ CÁC XỨ CẬN HUẾ

Sáng mồng 7 tháng giêng năm Đinh Hợi, tôi đang chiên mấy miếng bánh tét thì nghe vợ tôi gọi với xuống từ lầu 1:” anh Đoàn ơi ! Xăm hường trong chương trình VTV1 của truyền hình VN”. Tôi vội bật TV, vừa kịp lúc phóng viên đang phỏng vấn 1 người dân sống ở phố cổ Hội An, người này bảo rằng trò chơi Xăm Hường là một trò chơi của người Tàu, được du nhập vào VN do người Minh Hương (Việt gốc Tàu) từ rất lâu. Cả phóng viên lẫn người được phỏng vấn đều sai, với một phát biểu trên phương tiện truyền thông dễ gây ra ngộ nhận. Phát biểu đó mang tính võ đoán và thiếu căn cứ.

Theo tôi, trò chơi Xăm Hường được  bày ra để làm trò tiêu khiển trong nội cung Triều Nguyễn. Sau đó, các quan lại và những người trong Nguyễn Phước Tộc, mang trò chơi này ra ngoài cung và trò chơi trở nên phổ biến từ thành thị đến nông thôn Huế và Thừa Thiên.

Người dân các xứ Quảng (Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi) cũng có những gia đình chơi trò Xăm Hường nhưng rất ít. Những gia đình này có thể là người gốc Huế hoặc có dây mơ rễ má gì với người Huế. Hoặc giả, trong dòng tộc có người làm quan trong triều đình Huế, hoặc giả họ là bà con dâu rễ với người Huế.

Vào trong Nam hay ngoài Bắc, trò chơi này hoàn toàn lạ lẫm. Như vậy, trò chơi Xăm Hường ví như vết dầu loang, trò chơi từ cung đình Huế lan ra khắp Huế và Thừa Thiên rồi tỏa ra các vùng xứ Quảng, rồi thôi. Những vùng xa như Bình Định, Phú Yên trở vào đến Cà Mau, từ Quảng Bình trở ra Bắc hầu như chẳng ai biết trò chơi này.

Trở lại bài phỏng vấn về Xăm Hường trên VTV1, bảo rằng Xăm Hường có nguồn gốc từ Trung Quốc là không có căn cứ vì nếu vậy trò chơi phải để lại một dấu vết nào đó trong các tác phẩm văn học. Chẳng có dấu vết nào.

Nếu người Minh Hương đem trò chơi này du nhập vào Việt Nam thì không cứ gì có người Minh Hương ở Hội An chơi trò này mà người Minh Hương ở Chợ Lớn là một cộng đồng người Hoa rất rộng lớn lại không biết trò chơi này? Dòng họ Mạc Thiên Tích lập nghiệp ở Hà Tiên ắc cũng phải đem trò chơi thú vị này du nhập chứ sao lại không nhỉ?

Để chứng minh thêm trò chơi Xăm Hường phát sinh từ nội cung triều Nguyễn, tôi dẫn ra đây 2 chứng cứ:

  1. Nếu phát sinh từ các triều vua trước ở Thăng Long, thì với mức thẩm thấu của trò chơi này, ít nhất là người ở Đông Đô Hà Nội phải có người biết.

  2. Tên gọi trò chơi là tên gọi thuần Việt “XĂM HƯỜNG”. Tên gọi này chỉ ra việc từ chữ Hồng nói trại ra thành chữ Hường. Đây là lối nói tránh những từ húy kỵ rất phổ biến ở Huế như chữ cửa Đông Hoa nói trại tha`nh cửa Đông Ba vì chữ Hoa là chữ húy kỵ đối với vua. Chắc chắn là những người ở Hội An không thể nói tên gọi của trò chơi này theo một cách gọi của người Tàu (ví dụ như Đoạt Khôi Nguyên Đồng Khánh chi cục chẳng hạn ) mà chỉ có thể gọi một cách thuần Việt và Huế đặc là Xăm Hường.

  3. Trò chơi Xăm Hường chắc là được bày ra sau đời vua Minh Mạng. Để thiết lập một nền quân chủ kỷ cương, ông vua văn võ song toàn này lập ra những bài thiệu 4 câu 5 chữ để phân biệt dòng chính và dòng thứ trong Nguyễn Phước Tộc. Mà dòng đích (chính hệ) là:

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương

            Những dòng thứ (bàng hệ) có những bài thiệu khác.

Như vậy gọi là Hường để tránh chữ Hồng là chữ phạm húy.

                                 

*   *   *

Nhân đây tôi xin trình bày thêm về trò chơi Xăm Hường, một trò chơi phù hợp với niềm hân hoan của con người trong 3 ngày tết, phù hợp với việc tạo một không khí ấm cúng, đầy tình thương yêu gắn bó các thành viên trong gia đình,bằng hữu từ già tới trẻ ai chơi cũng được, cũng vui, thậm chí người không biết luật vẫn ngồi vào chơi được như thường.

Người ta thường chơi Xăm Hường trong mấy ngày tết, có kéo dài lắm thì cũng đến hết mùng thì thôi. Đây là một trò chơi tao nhã vì không ai dùng Xăm Hường để sát phạt. Hầu như không có tiếng cãi cọ, cay cú trong lúc chơi Xăm Hường, chỉ có tiếng cười vui rộn rã hòa với tiếng leng keng vui tai của nạm hột súc sắc xoay tròn trong tô kiểu cùng tiếng lách cách của những thẻ hường va chạm nhau.

Số lượng người tham dự trò chơi này có thể lên đến 12 người hay nhiều hơn nữa nếu chúng ta biết cách chơi. Do đó, Xăm Hường rất phù hợp với không khí gia đình chung vui trong ba ngày tết.

Chẳng ai chơi Xăm Hường mà tính chuyện gian lận vì không ai có thể điều khiển được một lúc 6 hột súc sắc. Tính minh bạch của trò chơi rất cao, 6 hột bày ra rõ ràng trước bao nhiêu cặp mắt nên người không biết tí gì về Xăm Hường cũng có thể ngồi vào chơi thoải mái, chỉ cần thả hột vào tô thì có người đọc và lượm thẻ giúp. Chỉ qua vài ba ván là biết được luật chơi liền.

Nhiều người tin rằng chơi Xăm Hường như một cách bói quẻ tốt xấu đầu năm. Trong cuộc chơi, ai lấy được Trạng anh (Trạng Nguyên), Trạng em (Bảng Nhãn, Thám Hoa) nhiều lần thì chắc cả năm danh tài đắc lợi, công việc hanh thông, thăng tiến. Trước ăn sau thua thì đầu năm tốt, nữa năm về sau xấu và nếu trước thua sau ăn thì ngược lại tiền hung hậu cát.

Nếu bị cướp trạng thì coi chừng những điều xui rủi, công việc gãy đỗ giữa chừng.

Hên nhất là ngũ hường đoạt tam khôi, cướp một lúc 3 ông trạng chắc là trong năm có cơ hội hoạnh phát tài lộc. Khó nhất là lục phú, tức là 6 hột súc sắc cùng hiện ra một mặt giống nhau. Vì là cực kỳ khó nên người ta tin rằng điều quá tốt hiển hiện thì có sự việc quá xấu tiềm ẩn.

Bàn về trò chơi Xăm Hường:

Có lẽ nhiều người chơi Xăm Hường thắc mắc vì sao người bày ra trò chơi này lại lấy mặt tứ (bốn) làm chuẩn của trò chơi, trong khi mặt nhất (một) cũng đẹp và cũng có màu đỏ.

Theo tôi, trò chơi mang tinh thần khuyến học. Vào thời quân chủ, người ta học hành theo lối từ chương với mục đích kiếm một chổ trong chốn quan trường. Muốn ra làm quan thì người học phải qua các kỳ thi Hương để đổ Tú Tài, kỳ thi Hội để đổ Cử Nhân và kỳ thi Đình để đậu đạt Tiến Sĩ.

Trong trò chơi Xăm Hường cũng có các cấp đỗ đạt như vậy mà phần thưởng cho người chơi là những thẻ xăm hường, trong đó cao nhất là Trạng Nguyên.

Vì là chốn quan trường nên cung quan là chủ đạo của trò chơi.

Trong quẻ Dịch có 6 hào từ sơ hào đến hào thượng. Sáu mặt của hột súc sắc (nhất – nhì – tam – tứ – ngũ – lục) tương ứng với 6 hào. Trong 6 hào của quẻ dịch thì hào 6 là ngôi trời, hào 5 là ngôi vua (cửu ngũ) và hào 4 là ngôi quan nên người bày ra trò chơi này lấy mặt tứ làm chủ đạo cho trò chơi. Mặt tứ có màu đỏ vừa vuông vắn, vừa đẹp lại vừa có ý nghĩa được gọi là Hường.

Người bày ra trò chơi dựa trên tính toán xác suất và tần suất xuất hiện của các mặt súc sắc để định ra luật lệ trò chơi. Càng khó xuất hiện (tức là xác suất thấp, tần suất xuất hiện ít) thì mức thưởng càng cao.

Từ đó hình thành ra các loại thẻ xăm hường. Bộ thẻ Xăm Hường được lập theo thứ tự quẻ Dịch: Thái Cực (1), Lưỡng Nghi (2), Tứ Tượng (4), Bát Quái (8) từ đó tăng dần lên theo cấp số nhân mà công bội là 2. Nếu tính đơn vị là 1 thẻ nhất hường (giá trị là 1) thì tổng giá trị của cả bộ Xăm Hường là 192 đơn vị, chia ra làm 6 loại thẻ, mỗi loại thẻ trị giá 32 đơn vị gọi là 1 Trạng.

Tên gọi và giá trị của các loại thẻ Xăm Hường:

 

TT

Tên gọi

Giá trị

Số lượng (thẻ)

1

Thẻ Trạng Nguyên (dân gian gọi là Trạng anh)

32

1

2

Thẻ Bảng Nhãn, Thám Hoa (Trạng em)

16

2

3

Thẻ Tam Hường

8

4

4

Thẻ Tứ Tự (hay Tứ Tấn)

4

8

5

Thẻ Nhị Hường

2

16

6

Thẻ Nhất Hường

1

32

Tổng mỗi loại thẻ có giá trị 32 đơn vị gọi là 1 trạng x 6 = 192 đơn vị, người ta gọi là 6 Trạng.

Thẻ Tam Hường còn gọi là thẻ Tam Hường Hội. Còn nhất hường, nhì hường tương đương với cấp đỗ đạt là Tú Tài, Cử Nhân thì tôi chì nghe nói mà thôi.

Như vậy chỉ với 1 bộ 6 hột súc sắc và một bộ thẻ như trên với 1 cái tô kiểu tiếng kêu thanh tao là ta đã sẵn sàng cho một cuộc chơi vui thú.

Những qui ước trong trò chơi Xăm Hường:

Người  chơi được nhận thẻ xăm theo những gì xuất hiện trong 1 lần đổ hột vào tô.

 

  1. Nhất Hường (1 mặt tứ) : lấy 1 thẻ một

  2. Nhị Hường (2 mặt tứ) : lấy 1 thẻ 2 hoặc 2 thẻ 1 khi không còn thẻ 2.

  3. Tứ Tự (hay còn gọi là Tứ Tấn): khi có 4 mặt giống nhau trừ mặt Hường (mặt bốn) thì lấy 1 thẻ 4. Nếu ngoài 4 mặt giống nhau đó có thêm 1 hường hay 2 hường thì lấy thêm 1 thẻ 1 hoặc 1 thẻ 2.

  4. Tam Hường (3 mặt tứ): lấy thẻ 8

Nếu Tam Hường đi với 3 hột súc sắc còn lại cùng 1 mặt (ví dụ 3 tứ, 3 tam) thì gọi là Phân Song Tam Hường, lấy được 1 Trạng em và 1 thẻ Tam Hường (trị giá 24 thẻ)

  1. Trạng em: có nhiều trường hợp xuất hiện được lấy Trạng Em (tức là Bảng Nhãn, Thám Hoa)

    1. Suốt: 6 hột theo thứ tự nhất – nhị – tam – tứ – ngũ – lục.

    2. Phân Song: là chia hai, 3 hột mặt này, 3 hột mặt kia (ví dụ 3 tam, 3 nhị)

    3. Thượng Mã, Hạ Mã: theo chữ là “Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân” trong tích Tào Tháo đãi ngộ Quan Công trong truyện Tam Quốc Chí.

         Thượng mã là 3 đôi: 2 nhất, 2 nhị, 2 tam

         Hạ mã là 3 đôi: 2 tứ, 2 ngũ, 2 lục

    1. Tứ Tự Cáp:  Cáp nghĩa là ghép với nhau. Tứ tự là 4 mặt giống nhau, hai hột còn lại mà tổng số bằng với mặt tứ tự thì gọi là Tứ Tự Cáp.

Ví dụ: Tứ tự là 4 mặt ngũ, 2 hột còn lại có thể là 3 và 2 hoặc là 4 và 1 thì đều gọi là tứ tự cáp.

Có 2 trường hợp đặc biệt của tứ tự cáp:

         4 mặt nhất và 2 mặt ngũ, lục thành ra 11 là tứ tự cáp của mặt nhất.

         4 mặt nhị và 2 mặt nhất hoặc là 2 mặt lục cũng là cáp.

Bốn trường hợp trên, người chơi được quyền lấy thẻ trạng Em. Khi hết thẻ trạng Em giữa làng thì lấy tương đương giá trị 16 thẻ.

  1. Trạng Anh (Tức là Trạng Nguyên) có 2 trường hợp.

  1. Trạng Tứ hường (còn gọi là trạng Đỏ) bao gồm 4 mặt hường. 2 hột súc sắc còn lại cộng với nhau thành ra tuổi của Trạng.

Ví dụ: 4 hường và 2 mặt còn lại là 3 và 5 thì gọi là trạng 8 tuổi.

Khi một người đã lấy được trạng 8 tuổi, mà có người khác đổ hột súc sắc ra trạng Anh 9 tuổi trở lên thì người đó được lấy trạng anh từ tay người kia gọi là cướp trạng.

Ngoài tuổi của trạng xác định như trên còn có 2 trường hợp đặc biệt là Trạng cáp xiên và Trạng cáp chính.

Trạng cáp xiên là 4 tứ, 1 tam, 1 nhất.;

Trạng cáp chính là 4 tứ, 2 nhị.

Trạng cáp xiên cướp trạng có tuổi. Trạng cáp chính cướp được cả trạng cáp xiên.

  1. Trạng ngũ tử (Trạng anh Đen): bao gồm 5 mặt giống nhau trừ hường. Hột xúc sắc còn lại là số tuổi.

Ví dụ: 5 mặt ngũ một mặt nhị thì gọi là Trạng ngũ tử 2 tuổi. Nếu người khác cũng ra ngũ tử mà tuổi lớn hơn thì cướp trạng.

Trạng ngũ tử có một trường hợp đặc biệt là ngũ tử đại ấn tức là 5 hột cùng một mặt, hột còn lại là mặt tứ. Trạng ngũ tử đại ấn cướp trạng ngũ tử có tuổi.

Có một quy định đặc biệt là loại trạng nào chỉ được cướp trạng loại đó. Trạng đỏ không được cướp trạng ngũ tử và ngược lại.

Trường hợp đổ ra trạng mà không cướp được trạng thì người ấy sẽ lấy 32 thẻ giữa làng.

Nếu người có trạng mà đổ ra trạng nhiều tuổi hơn thì chỉ được tăng tuổi  trạng chớ không được phép lấy thêm thẻ giữa làng.

  1. Ngũ hường đoạt tam khôi: Tức là 5 mặt hường thì được lấy cả 3 trạng (1 trạng anh và 2 trạng em) dù trạng đã nằm trong tay người khác. Hột súc sắc còn lại là số tuổi của ngũ hường.

  2. Lục phú: Có 2 trường hợp:

  1. Lục phú đen: 6 mặt giống nhau trừ hường.

Khi có lục phú thì không kể ai có bao nhiêu thẻ, tất cả người chơi đều đồng loạt chung cho người lục phú giá trị theo quy định (nếu 6 hoặc 7 người chơi, mỗi người phải chung 1 trạng)

  1. Lục phú hường: 6 mặt tứ

Tất cả đều chung cho người có lục hường trị giá gấp đôi quy định (nếu chơi 6 hoặc 7 người thi 1 người phải chung 2 trạng)

Trong trường hợp, người chơi đổ hột văng ra ngoài thì xem như bất hợp lệ và phải bị phạt một thẻ hường thêm vào trạng.

Trường hợp người có trạng đổ hột những lần đầu không có hường thì mỗi lần bị phạt 1 thẻ thêm vào trạng.

Số lượng người chơi và cách tính số lượng thẻ của mỗi người chơi:

1. Từ 2 đến 7 người:

– Hai người: mỗi người phải đủ 32 x 3 = 96 thẻ.

– Ba người: mỗi người phải đủ 32 x 2 = 64 thẻ.

– Bốn người: mỗi người phải đủ 32 x 1,5 = 48 thẻ.

– Năm người: Có 2 cách:

      + Nếu chia đều thì bỏ bớt 2 thẻ, còn 190 thẻ, mỗi người phải đủ 38 thẻ.

      + Bán trạng: người có trạng anh được quyền bán trạng và những thẻ khác trên tay mình, không giữ lại thẻ nào. Như vậy, mỗi người khác phải đủ 48 thẻ.

         Sáu người: mỗi người phải đủ 32 thẻ.

         Bảy người: người nào có trạng anh sẽ bán hết thẻ trên tay mình cho người nào còn thiểu (mỗi người phải đủ 32 thẻ).

2. Bắt đầu 8 người chơi trở lên thì cách tính có phần phức tạp hơn. Số người chơi có thể nhiều nhưng nên chơi tối đa 12 người.

Từ 8 đến 12 người chơi, chúng ta áp dụng lối bán trạng 2 lần.

Nhiều người nghĩ rằng, bán trạng 2 lần là người có trạng được bán gấp đôi giá trị của thẻ trạng (32 x 2 = 64)

Thật sự, nếu chơi theo cách đó thì chỉ có 1 người vui vì ăn nhiều mà những người khác sẽ buồn vì ai cũng thua cả.

Theo tôi đã áp dụng và cách bán trạng 2 lần này hay hơn.

Bán trạng hai lần có nghĩa là cả trạng anh và 2 trạng em đều được bán.

Người có trạng em được xem như đủ thẻ, số còn lại mà người có trạng em lấy được thì được quyền bán.

Sau khi người có thẻ trạng em bán xong, thì người có trạng anh sẽ ăn hết phần còn lại

Số lượng thẻ cần có của những người chơi không có trạng giảm dần khi số người chơi tăng lên:

8        người chơi, mỗi người không có trạng chịu 32 thẻ

9                                                                       28 thẻ

10                                                                     25 thẻ

11                                                                     22 thẻ

12                                                                     20 thẻ

Số lượng thẻ này tùy theo sự giao ước của những người chơi. Con số trên đây chỉ là con số để tham khảo mà thôi.

Một số cải biến để trò chơi thêm hấp dẫn :

  1. Đấu thẻ rời: Khi còn lại chỉ trạng anh, người ta tạo thêm hào hứng bằng cách đấu 1 , 2 thẻ hường. Ai nhiều hường hơn sẽ ăn hết. Lối đấu này chỉ căn cứ theo mặt hường.

  2. Hạ giá trạng: Khi đã hết thẻ nhỏ mà đổ nhiều vòng không lên trạng, để cho nhanh có thể hạ giá trạng. Thông thường là phân song tam hường, có thể là trạng em trừ suốt (Có nghĩa là phân song, tứ tự cáp, thượng hạ mã)

  3. Cướp Trạng Em: Khi có 8 người chơi trở lên, người chơi chấp nhận bán trạng 2 lần thì giá trị của trạng em tăng lên nhiều. Có thể chia ra 3 cấp để cướp trạng em.

Cấp I: Phân song tam hường

Cấp II: Phân song, tứ tự cáp, thượng mã, hạ mã

Cấp III: Suốt

Như vậy phân song tam hường có thể cướp trạng em cấp II và III, cấp II có thể cướp trạng em của Suốt.

Người lấy trạng em trước thì bị cướp trước.

  1. Không lấy thẻ: Người chơi có quyền không lấy thẻ giữa làng vì không ai cấm 1 người từ chối quyền lợi mình được hưởng. Như vậy người chơi có cơ hội cướp trạng nhiều hơn.

Bằng cách chơi mới lạ này mà bạn bè Quốc Học 61-64 đã áp dụng trong buổi họp mặt đầu năm Đinh Hợi. Nó tạo nên niềm vui vô kể.

Hầu như trò chơi nào cũng có những biến thái thích hợp để tạo nên hào hứng và vui vẻ nhiều hơn. Do đó chúng ta không nên câu nệ lề thói cũ mà thử áp dụng những cải biến trong trò chơi xăm hường để trò chơi vui hơn, hấp dẫn hơn. 

 

Chế tác thẻ Xăm Hường

Trong nội cung triều Nguyễn và các gia đình quan lại trước đây, thẻ xăm hường có thể làm bằng ngà voi. Sau này, thẻ xăm hường được làm bằng vật liệu khácdễ kiếm hơn. Vật liệu có thể là sùng bò, sùng trâu trắng, xương, tre, gỗ để làm xăm. Có thể in, vẽ hình trạng và ghi chữ Hán, cũng có thể ghi chữ số, miễn sao có đủ thẻ lớn nhỏ để chơi.

Bộ thẻ xăm hường của tôi được chế tác từ đủa nhựa melamine của Trung Quốc. Chỉ cần cắt dài ngắn khác nhau ta có thẻ nhất hường, nhị hường, tứ tự. Ghép 2 thẻ tứ tự cho dài hơn 1 tí ta có thẻ tam hường, ghép 3 thẻ dài hơn ta có trạng em, dài hơn chút nữa ta có trạng anh.

Dùng keo dán Super Glue đễ gắn các thẻ đủa lại với nhau. Cách chế tác này dễ dàng. ai cũng làm được vì đơn giản vô cùng mà âm thanh của thẻ va chạm nhau cũng thanh tao “nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau” vui tai lắm lắm .

Xăm hường là một trò chơi mang đậm nét văn hoá đặc sắc. Trò chơi phổ biến rất rộng rãi trong xã hội Huế và các vùng lân cận. Trò chơi vô cùng tao nhã và thân thiết.

Cứ mỗi lần Tết đến, được nghe âm thanh các hột súc sắc đỗ dòn trong cái tô kiểu, lòng người tự nhiên thấy rộn rã một không khí vui tươi, đầm ấm của một gia đình người Huế đón xuân.

Mỗi gia đình người Việt dù ở Việt Nam hay xa xứ nên kiếm mua hoặc tự làm một bộ xăm hường để gia đình được quây quần vui vẽ trong ba ngày Tết với trò chơi tao nhã: XĂM HƯỜNG

LÊ DUY ĐOÀN

Mông 8/1/Đinh Hợi.

Chục Mười Tám (Lê Duy-Đoàn)

Chục mười tám.

Lê Duy Đoàn

Năm 1992, tôi quen biết ông Chung Yoo Sop, một người Đại Hàn rất nhân hậu ,qua Việt nam tìm kiếm và tìm cách giúp đở những đứa con lai sinh ra từ những mối quan hệ cha Hàn , mẹ Việt. Những người cha Hàn quốc này có thể là những người lính trong các sư đoàn bộ binh Bạch mã, Mãnh hổ hay lữ đoàn thủy quân lục chiến Rồng xanh của Đại Hàn, lực lượng quân đội nước ngoài tham chiến đông đảo chỉ sau Mỹ trong chiến tranh Việt nam. Một số người cha Hàn quốc này làm công nhân cho hảng RMK của Mỹ xây dựng đường sá quốc lộ hay tỉnh lộ theo kỷ thuật làm nền và tráng nhựa hiện đại nhất của Mỹ lúc đó. Một số qua Việt nam mở các cửa hàng bán đồ gia dụng, thực phẩm, gia vị, thức ăn của người Hàn vì người Hàn quốc rất bảo thủ trong vấn đề ẩm thực. Năm 1973, khi hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút quân về nước, người Đại Hàn cũng rút theo. Những người phụ nữ Việt lấy chồng Hàn( hầu hết không chính thức) ở lại Việt nam nuôi những đứa con lai. Bây giờ ông Chung qua Việt nam tìm những người vợ có chồng Đại Hàn và con lai của họ để dạy tiếng Anh, tiếng Hàn và dạy nghề . Có những hội đoàn Tin lành tài trợ cho việc này. Những người Hàn có lương tâm thấy những dấu vết xấu xa và những ám ảnh ghê rợn mà dân tộc họ để lại trên đất nước Việt nam sau khi họ rút về nước là những vết nhơ và những chuyện đau buồn nên họ tìm cách hàn gắn và chuộc lổi. Không biết ông Chung nói có thật lòng hay không là khi qua Việt nam có hai lần ông khóc. Lần thứ nhất là năm 1967, ông khóc vì tủi cho đất nước của ông. Sao một đất nước cũng chia cắt như đất nước của ông mà Việt nam phát triển vượt trội như thế ?! Lần thứ hai ông khóc là vào năm 1990, ông buồn vì thương cho người Việt và đất nước Việt nam sao lại thụt lùi, lạc hậu và người dân nghèo khổ như vậy.

Theo lời giới thiệu của ông Chung ,tôi làm đại diện giao dịch cho ông Lee Duk Kon, Tổng giám đốc Công ty Seoul Industrial Company, Ltd của Đại Hàn có văn phòng ở thủ đô Seoul. Ông Lee trắng trẻo, cao to, vai rộng, khuôn mặt quắc thước, phong thái trí thức. Giọng ông nhẹ, nhã nhặn, luôn nói  những lời mềm mỏng tôn trong khác hẳn với đa số người Hàn quốc qua Việt nam lúc đó.

Ông Lee qua Việt nam  tìm nguồn cung cấp và xuất khẩu chuối già lùn, già hương sang thị trường Đại Hàn. Lúc đó, chuối hiện đang nhập khẩu vào thị trường Đại Hàn là giống chuối có vỏ màu vàng tươi (chuối bom) hầu hết đều từ các nông trường trồng chuối ở các nước Nam Mỹ như Perou, Ecuador… Không biết lấy thông tin từ đâu mà ông Lee biết hương vị chuối Việt nam hơn hẳn chuối Nam Mỹ.  Ở Seoul, một trái chuối Nam Mỹ có giá 1 đô la, chuối già Việt nam một trái phải trên 1 đô la trong khi mua ở Việt nam  một nải chuối chưa đầy 1 đô la. Thế là ông qua Việt nam để xuất khẩu chuối.

Những năm đó, Liên Xô và khối cọng sản Đông Âu đã sụp đổ, Việt nam mở cửa nền kinh tế.  Các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt nam thăm dò, tìm kiếm cơ hội làm ăn, mua bán. Người Đại Hàn và người Đài Loan nhanh chân hơn hết.

Chúng tôi chọn công ty Fataco, một công ty dịch vụ và xuất nhập khẩu của tỉnh Bến tre làm đối tác. Bến tre cũng giống hầu hết các tỉnh ở đồng bằng Nam bộ, có những vùng đất phù sa màu mỡ ven sông Tiền, sông Hậu, những cồn bãi hoa màu tươi tốt. Đây là vùng nguyên liệu rất phong phú.

Ông Lee chỉ là một người kinh doanh không có kinh nghiệm. Ông không lường trước mọi điều liên quan đến việc xuất khẩu chuối trong điều kiện quá nhiều rủi ro khi làm ăn với Việt nam. Ngay chuyến đầu tiên xuất 8 containers chuối sang Đại Hàn, tất cả đều hư thối phải thuê đổ bỏ bên ngoài phao số không ở cảng Busan ( họ gọi chuối hư thối đó là tông(1) banana). Sau này tôi mới biết, hảng tàu đã không thông tin đầy đủ  về lộ trình và thời gian vận chuyển. Chuyến hàng thay vì đi từ Sài gòn qua tới Đại Hàn mất từ 7 đến 10 ngày thì lại trung chuyển qua Singapore nên mất cả tháng. Lại nữa, những hảng tàu lúc đó hoạt động còn hạn chế vì lịnh cấm vận của Mỹ chưa được giở bỏ, hàng xuất khẩu ít nên tàu chất hàng ở nhiều địa phương khác nhau ,phải bốc dở nhiều nơi nên chuyến tàu trễ nãi. Lúc đó trình độ dân Việt nam làm hàng xuất khẩu còn kém, container lạnh không bảo đảm nhiệt độ ổn định,thời gian vận chuyển trên biển lại quá lâu. Hàng đóng trong thùng carton thoáng, có bao nilon đục lổ nhưng chất hàng không thoáng nên chuối chín sớm.Một trái chín kéo lây chuối trong cả thùng carton chín theo và  cứ như thế kéo dây chuyền cả container đều chín. Tất cả những yếu tố đó biến những container chuối già hương hàng tuyển, độ chín tới 80% thành một đống “ tông banana” thúi hoắc. Ông Lee mất trắng cả chuyến hàng và bỏ cuộc.

Nhiều công ty Đại Hàn vẫn tiếp tục qua Việt Nam tìm kiếm cơ hội xuất khẩu chuối.

Những người này quen và biết hoạt động của ông Chung, giúp tiền bạc để mua cho các cháu con lai xe đạp và tài trợ gia đình các em khó khăn. Họ cũng nhờ ông Chung tìm những vùng đất màu mỡ ở miền Tây để đầu tư trồng chuối và thu hái xuất khẩu theo dự tính hình thành một dây chuyền khép kín giống như mô hình xuất khẩu chuối của các nước nam Mỹ.

Ông Chung nhờ tôi  đi một chuyến về các tỉnh miền Tây để tìm hiểu những thổ sản nông nghiệp có thể xuất khẩu được, đồng thời kiếm những vùng đất chuyên canh cây chuối ở các tỉnh miền tây.

*            *

*

Lúc đó vào dịp hè, các con tôi được nghỉ học. Tôi rủ vợ tôi đi miền tây một chuyến cho biết. Hai chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe gắn máy Dream khởi hành từ sớm tinh mơ. Đường quốc lộ còn khá tốt, xe cộ lưu thông thưa thớt, nạn cướp bóc không có rộ lên như sau này nên chuyến đi an toàn và rất thú vị.

Chúng tôi đi một lèo từ Sài gòn đến gần ngã ba Trung lương, ghé vào nhà người bà con làm việc ở Công ty Địa chất 88 lúc trời vừa hửng sáng. Đường đi dày đặc sương mù. Khi dừng xe vào nhà, chúng tôi nhìn nhau và cùng cười rộ. Mặt người nào cũng đầy nhọ vằn vện như quệt nhọ nồi. Thì ra, những vẩn bụi li ti trôi nổi cùng sương sớm,nên khi chúng tôi đi trong màn sương, chúng tôi đã hứng trọn bụi bặm trong không khí mà không hề hay biết. Ngó qua ngó lại hai khuôn mặt như ma trơi.

Trong bốn ngày chúng tôi đi xe gắn máy qua các tỉnh Tiền giang, Bến tre, Vĩnh long, Sóc Trăng, Cần thơ, An giang và Đồng tháp. Ba đêm ngủ lại ở Vĩnh long, Cần thơ và Sa đec thật ấn tương và vô cùng thú vị. Nói là đi tìm vùng nguyên liệu xuất khẩu nhưng chúng tôi kết hợp công việc nghiên cứu thực địa với việc tranh thủ đi chơi cho biết những địa danh nổi tiếng ở những tỉnh mình đi qua vì đây là một dịp hiếm hoi trong đời.

Ở đây tôi chỉ nói đến chuyện đi chơi, không kể chuyện nghiên cứu .

Bây giờ người ta vẫn quen miệng nói Nam kỳ lục tỉnh nghĩa là toàn Nam bộ chỉ có 6 tỉnh. Đó là tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn độc lập, tức là khoảng thời gian từ năm 1832 (cải cách hành chính của vua Minh Mạng) cho tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây) . Sau thời điểm đó, Pháp xóa lục tỉnh và chia Nam bộ ra thành nhiều tỉnh rồi. Tên gọi lục tỉnh không còn đúng và không còn ý nghĩa.  Lúc chúng tôi đi về miền tây thì miền tây Nam bộ đã chia ra thành 12 tỉnh.(mời đọc chú thích bên dưới bài viết(2).

Nhà  của bà O ruột của vợ tôi ở gần ngã ba Trung Lương nằm trong khu ở tập thể của công ty địa chất 88 . Chúng tôi gửi ba lô, túi xách để đi chơi cho gọn nhẹ. Hai vợ chồng O dượng cùng tốt nghiệp kỷ sư ngành dầu khí ở Tiệp khắc nhưng lúc về Việt nam ngành dầu khí đang phôi thai nên phải chuyển qua ngành thăm dò địa chất. Công ty này thăm dò địa chất thì ít mà khai thác nước ngầm là chính vì những vùng xa thành phố không có nước sạch, mà nước sông, kênh rạch ở các tỉnh nam bộ hầu hết đều bị chua phèn,đến mùa nắng nóng đôi khi nhiễm mặn. Mỗi nhà đều để nhiều lu vại để đựng nước lắng phèn. Khoan nước ngầm là nghề tay trái nhưng lại tăng thu nhập rất nhiều cho cán bộ nhân viên công ty.

Cơ ngơi của công ty là 3 dãy nhà liên kế xếp thành hình chữ U, nhà trệt cột gỗ,vách ván mái lá cửa nẻo đơn sơ.

Trong khuôn viên rộng rãi hơn  hecta của công ty có hai nơi đặc biệt: vòi nước giếng khoan và cầu tỏm .

Một vòi nước giếng khoan nước ngầm với tầng nước ngầm sâu đến 50 mét chảy liên tục dòng nước ngọt trong vắt và ấm khoảng 37-38 độ C.Dân quanh vùng mang thùng đến lấy nước thoải mái. Ngồi tưới tắm dưới vòi nước ấm hàng giờ vẫn không thấy ngán. Thật là một trải nghiệm thú vị.

Một cái ao cá tra rộng khoảng 150 mét vuông hứng nước thừa chảy từ vòi nước giếng khoan chảy vào liên tục. Chúng tôi nói đùa là cá nhiều hơn nước. Những con cá to dài mình đen nháy chen vây với nhau lượn lờ chờ đợi. Trên ao cá là một cái cầu tiêu đôi dã chiến được chống đở bởi bốn cột gỗ ọp ẹp lắc lư trên ao, từ bờ ao đi ra là cái cầu ván lắc lẻo ( chúng tôi gọi đó là cầu tỏm).  Cầu che tạm bợ xung quanh bằng những miếng ván đầu thừa đuôi thẹo hở trên trống dưới và che cao chưa tới bẹn nên đứng ngoài xa người ta vẫn có thể thấy “cầu sĩ” là ai. Thành ra, hai  “cầu sĩ”có thể thấy mặt nhau và rôm rả nói chuyện với nhau thoải mái trong khi làm chuyện “tứ khoái”. Ngồi trong tư thế như vậy người Huế nói là thấy“dị òm” chứ người Nam thì cứ “tự nhiên như người Hà lội”.

Khắp Nam bộ lúc đó dân chúng làm “cầu tỏm” trên ao hồ hay ven sông rạch và cứ thoải mái “gần gũi với môi trường”. Ít nhà có cầu tiêu tự hoại.

Đi tới đâu chúng tôi cũng hỏi những người dân địa phương những danh lam thắng cảnh đặc trưng và những đặc sản ẩm thực của vùng đó .

Dạo quanh thị xã Mỹ tho một vòng qua mấy đường phố mất khoảng mươi phút.  Thị xã nhỏ nhắn, đường phố còn nhỏ hẹp, cây cối hai bên đường phủ che bóng mát, Thị xã nhỏ , người dân hiền hòa thân thiện như thành phố Huế hay thị xã Hội an.

Chúng tôi ra đường Trưng Trắc tìm quán hủ tiếu điểm tâm. Hủ tiếu Mỹ tho thì đã quá nổi tiếng từ lâu rồi.

Hủ tiếu nguyên là món ăn gốc từ người Triều Châu, mang vào Ðàng Trong được người mình Việt hóa. Người Tiều phát âm là “củi tiểu” hay “củi thiểu” và người mình đọc trại ra là “hủ tíu” rồi “hủ tiếu” như ngày nay.

Không ai biết hủ tiếu có mặt ở Việt Nam vào lúc nào, nhưng chắc một điều là nó có mặt sau khi người Hoa được các chúa Nguyễn cho vào định cư ở phía Nam. Ðặc biệt là kể từ khi Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vào lập xứ Ðông Phố, cho người Tàu cư ngụ ở Trấn Biên (Biên Hòa) lập ra xã Thanh Hà, và người Tàu ở Phiên Trấn (Saigon & Gia Ðịnh) lập ra xã Minh Hương.

Hủ tiếu sau khi vào miền Nam được người mình đón nhận, biến cải để hợp với cái mỹ vị, nghệ thuật ăn uống của con người ở đây. Hủ tiếu Tiều có mặt ở Ðàng Trong theo như lịch sử của Saigon thì đã trên 300 năm, không ngừng cải tiến, phục vụ cái sở thích ăn ngon của người địa phương, dần dà hủ tiếu Tiều trở thành hủ tiếu Việt; mà tiếng tăm vang lừng như: Hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Sa Ðéc và nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho.

Ở Mỹ tho còn có một món hủ tiếu với cách chế biến hoàn toàn khác nhưng cũng ngon miệng  không  kém hủ tiếu Mỹ tho là hủ tiếu sa tế , có gốc gác từ người Hoa.

Chúng tôi vào một quán ăn của một người Việt gốc Hoa trên đường Trưng Trắc bên bờ sông Bảo Định, ( người địa phương nói là những tiệm ăn san sát trên đường nàymới đúng là hủ tiếu Mỹ Tho chánh gốc) nơi chúng tôi có thể gọi 2 loại hủ tiếu Mỹ tho và hủ tiếu sa tế để ăn thử cho biết.

Hai loại hủ tiếu Mỹ tho và hủ tiếu sa tế đều dùng cùng một loại sợi bánh khô nhưng khác nhau ở nước dùng: Hủ tiếu Mỹ tho dùng nước lèo, hủ tiếu sa tế dùng nước xốt nên hương vị khác nhau.

Sợi bánh hủ tiếu Mỹ Tho là loại bánh khô, được chế từ gạo thơm địa phương như gạo Nàng Hương, gạo Nanh Chồn hay gạo Nàng Thơm Chợ Ðào (gạo ngon số một). Hiện nay có hai trung tâm sản xuất bánh hủ tiếu khô nổi tiếng (loại hủ tiếu Mỹ Tho): Một ở thị trấn Mỹ Tho và một ở Gò Công, sản xuất hầu hết hủ tiếu khô Mỹ Tho cung cấp cho cả nước.

Sợi hủ tiếu Mỹ Tho do vậy có mùi thơm của gạo, trụng nước sôi thì mềm nhưng không bở, nhai nghe dai dai, nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua. Sau khi trụng, cho vào tô, trộn với ít mỡ hành phi, nhìn sợi hủ tiếu trong bóng, ẩn đục bên trong nhìn rất bắt mắt.

Nước lèo chan vào tô hủ tiếu nấu bằng thịt và xương ống nguyên chất, đặc biệt là có thêm tôm khô, khô mực nướng và củ cải trắng, củ cải đỏnên vị thanh tao vô cùng

Các món phụ gia góp phần làm tô hủ tiếu Mỹ Tho thêm hấp dẫn là giá sống, chanh, ớt, hẹ, nước tương  còn có thêm rau cần.Nhìn tô hủ tiếu Mỹ Tho nấu với thịt heo bầm, có điểm con tôm thẻ, lột xẻ đôi, thêm đồ lòng heo, sườn heo và trứng cút nữa, tô hủ tiếu Mỹ Tho như vậy quả không thấy hơi hám gì của người Tàu nữa cả, mà rặc là hủ tiếu theo phong cách nam bộ Việt Nam.

Còn tô hủ tiếu sa tế lại có vị Tàu đặc trưng. Tôi nghe là việc nấu nước sốt sa tế không hề đơn giản. Đầu tiên hầm nồi nước lèo bằng xương bò cho thật đậm, Tiếp đó, pha sa tế với các loại gia vị như tỏi, hành tím, gừng, sả, đại hồi, tiểu hồi, quế, ớt khô, ớt bột, đậu phộng rang giã nhuyễn, mè rang… xào với dầu mè. Sau đó, cho hỗn hợp đã chế biến vào nước hầm bò và nêm lại gia vị. Ăn hủ tiếu sa tế  ta cảm nhận vị ngọt đậm đà của nước hầm xương, vị thơm thơm cay cay của ngũ vị hương hòa trong vị chua chua của khế, hương thơm của mè, đậu phộng, húng quế… tất cả hoà lẫn tạo thành một mùi vị rất riêng cho món ăn đặc trưng của người Hoa

Quả thật ở Mỹ Tho, có sự khác biệt rõ ràng giữa 2 tô hủ tiếu Việt và hủ tiếu Tàu.

Điểm tâm xong, chúng tôi lên đường thẳng đến thăm chùa Vĩnh Tràng. Chùa là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế – Trí Huệ .Vĩnh Tràng không chỉ là ngôi chùa lớn nhất tỉnh Tiền Giang mà còn là ngôi cổ tự danh tiếng bậc nhất ở miền Nam. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa Vĩnh Tràng tọa lạc ở đường Nguyễn Trung Trực, thuộc xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Chùa vốn là một thảo am do ông Tri huyện Bùi Công Đạt xây cất vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1849, Hòa thượng Thích Huệ Đăng trụ trì chùa đã tổ chức xây dựng thành ngôi đại tự và đặt tên là chùa Vĩnh Tràng. Chùa đã trải qua nhiều lần hư sập, trùng tu mới mang dáng vẻ kiến trúc châu Á pha lẫn châu Âu đẹp đẽ và hoành tráng như ngày nay.

Rời chùa, chúng tôi thẳng đến bến phà Rạch Miễu bắt qua sông Tiền, nối Bến Tre và Mỹ Tho. Đó là bến phà khá hiện đại, do có Đan Mạch tài trợ đóng các phà mới.

Bến phà Rạch Miễu (hay bến phà Tân Thạch) nằm trên quốc lộ 60 nối liền 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, với bờ phía Tiền Giang đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, và bờ phía Bến Tre đặt tại xã Tân Thạch, huyện Châu Thành. Rạch Miễu là một thị tứ ở bờ phía Bến Tre.

Đường thủy đi ngang qua sông Tiền của phà Rạch Miễu dài khoảng 3,2 km, đi vòng qua cồn Phụng và cồn Thới Sơn. Chờ phà hơi lâu. Phà đi qua tới bờ bên kia cũng phải mất đến nửa giờ. Gió trên sông lồng lộng đưa hương đồng gió nội phả vào người mát rượi như thổi đi những phiền muộn đời người.

Chúng tôi dự tính đi những điểm tham quan xa trước, gần sau. Thế là chúng tôi  vội vã lên xe dông tuốt đến tận Ba Tri rồi Bãi Ngao là huyện lỵ ven biển của Bến Tre.

Con đường từ thị xã Bến Tre về Ba Tri dài đến 35 km chỉ là đường đất rộng chưa tráng nhựa, vắng xe cộ đi lại, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe khách cũ kỹ chạy qua tung bụi mù trời. Dọc hai bên đường là cả một rừng dừa xanh tốt, nhà cửa thưa thớt, nghèo nàn.

Thị Trấn Ba Tri là nơi an nghỉ  của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Xã Bảo Thạnh của huyện Ba Tri là quê hương của Phan Thanh Giản (vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ), đồng thời còn là nơi an nghỉ của xử sĩ Võ Trường Toản. Cả ba người đều là danh nhân Nam Bộ.

Sau khi dạo quanh chợ Ba Tri, chúng tôi đến viếng khu lăng mộ nhà thơ yêu  nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), cách thị trấn Ba Tri chừng 1km trên đường về An Đức.

Khu lăng mộ được xây dựng vào năm 1972 có quy mô nhỏ, gọn nhưng trang trọng với nhiều cây cao bóng mát.

Nguyễn đình Chiểu là người gốc Huế từng sống và học hành ở Huế từ 12 đến 19 tuổi.Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định.

Trong truyện Lục Vân Tiên có vài chi tiết giống cuộc đời ông

( Đời thật)…Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi. Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.

Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút… ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, ông mới mở trường dạy học và làm thuốc.

(Lục Vân Tiên)…Sau khi về nhà thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi, ghé thăm Võ Công, người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàngLúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang. Dọc đường về, Vân Tiên đau mắt nặng, rồi bị mù cả hai mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bãi, Vân Tiên được gia đình ông ngư cứu mạng. Sau đó chàng lại bị Võ Công khinh rẻ và bị Võ Thể Loan gạt bỏ vào hang núi Thương Tòng.

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre. Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những người mến mộ và thương tiếc ông.

Trong nhà tưởng niệm , ngoài tượng và bài vị thờ cụ Đồ Chiểu, còn có treo tranh vẽ chân dung của các vị anh hùng dân tộc như Trương Định, Thủ Khoa Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Phan Tòng, Lê Quang Quan… và trích đoạn những tác  phẩm văn học nổi tiếng của cụ Đồ.

Phía sau, bên trái nhà tưởng niệm là phần mộ của cụ Đồ với phu nhân. Gần bên đó là nơi yên nghỉ của  nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (bút hiệu này có nghĩa là bà Nguyệt Anh góa chồng) . Tên thật của bà  là Nguyễn thị Khuê, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Bà là nhà thơ và là chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ giới chung do bà phụ trách là tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài Gòn[ rất nổi tiếng vào đầu thế kỷ trước.

Tới Bãi Ngao chúng tôi chỉ thấy bờ chứ không thấy bãi nào hết. Sóng biển đục ngầu phù sa vổ bờ, xâm thực bờ thành từng  hàm ếch. Cảnh vật vắng lặng nhuốm màu “thương hải tang điền”. Chỉ có tiếng sóng biển vổ bờ rì rào,rì rào…

Về lại thị xã , chúng tôi ghé vào chợ Bến Tre kiếm trái sầu riêng Cái Mơn về ăn và làm quà biếu O Dượng.

Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành – huyện Chợ Lách – tỉnh Bến Tre. Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông, men theo QL 57 đến Cái Mơn khoảng 21km. Đặc biệt, đặc sản trái cây nổi tiếng nhất là loại sầu riêng cơm vàng, hạt lép có hương thơm ngào ngạt nổi tiếng trong và ngoài nước.( Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong).

Đến bây giờ vẫn chưa có tư liệu chính thức nào ghi chép lại nguồn gốc, xuất xứ của giống sầu riêng đặc biệt này nhưng theo truyền miệng, loại quả lạ này xuất xứ từ Campuchia, do ông Nguyễn Duy Lưu (1857- 1947) một thầy dạy Nho học ở Cái Mơn, rất yêu thích công việc trồng trọt. Vào khoảng năm 1910 ông được mời sang Campuchia để dạy học cho con cái Hoàng gia. Tình cờ ông thưởng thức được loại trái lạ, có mùi vị rất đặc trưng. Khi ăn thì vị ngọt thanh kết hợp với mùi thơm lừng làm những ai lần đầu tiên thưởng thức cũng phải nhớ mãi không quên. Ông Lưu đưa giống cây lạ này về trồng trên mảnh vườn nhà tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành – Chợ Lách) và đặt tên là “sầu riêng sữa bò”. Sầu riêng sữa bò của ông Lưu chỉ cho trái vào mùa hè, vào tháng 5, đến tháng 7 dương lịch. Trái khi chín vẫn xanh ngắt, mỏng vỏ, gai thưa, khi chín múi lớn vàng ươm, có vị ngọt dịu và béo ngậy như sữa, hương thơm thì ngào ngạt. Đặc biệt, là đúng 12 giờ trưa hay nữa đêm, khi trái tự rụng xuống thì mới chịu chín. Vô phúc cho đôi trai gái nào ngồi tình tự dưới gốc cây sầu riêng vào giờ đó?! Tiếng đồn về một giống trái ngon có vị lạ bay xa, đến mùa thu hoạch, nhiều người trong và ngoài tỉnh Bến Tre hiếu kỳ tìm đến vườn ông Lưu để thưởng thức trái lạ và xin giống về trồng.

Người dân Bến Tre lúc đó rất thật thà, họ nói sầu riêng Cái mơn cơm vàng hạt lép là đúng y chang. Chỉ có giá là cao gấp đôi những loại sầu riêng khác.

Trở lại bến phà, chúng tôi gửi xe trên bờ bến thuyền chuyên chở khách qua Cồn Phụng. Cồn Phụng là một trong bốn cù lao trên sông Tiền, lấy tên linh vật ( Long, Lân( cồn Thới sơn), Quy, Phụng).Bến thuyền nằm cạnh bến phà. Sóng vổ mạn thuyền lách bách. Thỉnh thoảng những chiếc tàu lớn đi dọc sông đẩy những đợt sóng lớn làm con thuyền chao nghiêng.

Lên bờ chúng tôi đi quanh một vòng thăm thú những dấu tích còn lại của ông Đạo Dừa.

Ðạo Dừa  do ông Nguyễn Thành Nam sáng lập. Ông xuất thân trong một gia đình khá giả ở huyện Châu Thành, qua du học ở Pháp lấy được bằng kỹ sư hóa học. Sau một thời gian sản xuất xà phòng không thành công, ông bỏ lên núi tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một lần vào giờ ngọ bằng rau và hoa quả và uống nước dừa xiêm. Một năm sau, từ núi, ông về lại Bến Tre, dựng một túp lều ở mỏm cù lao Tân Long vào năm 1952. Sau mấy tháng hoạt động, thấy bất tiện, ông về quê ở ấp I, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, mua một xà lan nhỏ, đậu bên mé sông Ba Lai và dựng một lều cao trên một mẫu vườn dừa, rồi ngồi tu “tịnh khẩu”.  Kỹ sư Nguyễn Thành Nam bắt đầu xưng giáo chủ của một đạo lấy tên là “Đạo Dừa”.

Nhận thấy địa điểm nói trên có nhiều điều bất lợi, ông Nguyễn Thành Nam chuyển toàn bộ cơ sở về mũi Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch (nằm bên tuyến phà Rạch Miễu hiện nay). Tại đây, ông đặt mua một xà lan lớn có sức chứa hàng trăm tấn, thiết kế làm ba tầng đưa về neo đậu bên một khu đất, trên đó xây dựng một số tháp, đài, nhà khách, vườn hoa…

Bây giờ, khách qua lại bến phà Rạch Miễu vẫn còn thấy một số công trình xây cất ,vết tích còn lưu lại của đạo Dừa.

Hiện nay, chiếc xà lan làm nơi hành đạo của ông Nguyễn Thành Nam được đưa về làm khách sạn nổi trên sông Bến Tre ở thị xã, còn cơ sở xây cất ở cồn Phụng được biến thành nơi nghỉ  dưỡng và là một địa chỉ du lịch để phục vụ công chúng và du khách .

Chúng tôi dùng cơm trưa ở nhà hàng gần khu kiến trúc của ông đạo Dừa.

Trong bảng thực đơn có hầu hết những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm sả; các món ăn biến tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm; các món ăn chế biến có nước cốt dừa.

Ngồi dưới bóng mát những tán cây trên bờ cù lao Phụng, nhìn những chuyến tàu thuyền xuôi ngược và qua lại trên sông Tiền, hưởng làn gió mát từ sông lên, chúng tôi ăn một dĩa đuông dừa chiên bơ uống bia và thưởng thức cái lẩu mắm là bửa ăn đậm đà hương vị ẩm thực Nam bộ.

Về lại nhà ở tập thể của O Dượng trong khuôn viên công ty địa chất 88, tắm vòi nước nóng để xua bụi đường và tan mệt nhọc, chiều chúng tôi lên đường về Vĩnh long.

Chúng tôi theo quốc lộ I qua các huyện Châu Thành, Cai lậy, Cái bè đến bến phà Mỹ thuận. Bến phà nối Tiền Giang với Vĩnh Long, hai bờ cách nhau chừng 1 km. Bờ bắc, bờ nam mặc dù là hai tỉnh khác nhau nhưng đều có tên là Mỹ Thuận. Lên bờ đi 9 km thì đến thị xã Vĩnh Long. Chúng tôi ở lại khách sạn Cữu Long, số 1 đường 1/5, thị xã Vĩnh Long. Khách sạn có vị trí nhìn ra ngã ba sông rất đẹp, tiện nghi khá tốt.

Buổi chiều, đi tản bộ trên bờ sông hóng ngọn gió lành chúng tôi cảm thấy thích thú vô cùng. Nhìn qua bên kia sông, những rừng dừa tít tắp. Tà tà đi đến chợ chúng tôi tìm mua cho được hai loại trái cây đặc biệt của Vĩnh Long là bưởi Năm Roi và sầu riêng Sáu Ri.

Giống bưởi Năm Roi do ông Trần Văn Bưởi (1918 – 1990) người làng Mái Dầm (nay thuộc xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, Hậu Giang) tìm thấy. Sinh thời, ông Bưởi làm nghề buôn bán trên sông. Một tối ông ngủ lại trên ghe bầu ở Tân Châu (vùng Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang thời Pháp thuộc) thì vô tình nhặt được một trái cây trên sông. Trái cây da có màu xanh, ruột màu vàng ươm. Xẻ ra nếm thử thấy vị ngon, mọng nước ông Bưởi rất thích. Ông lấy hột mang về quê Phú Hữu (chợ Mái Dầm) để trồng.

Sau khi giống bưởi này được phổ biển khắp vùng quê ông Trần Văn Bưởi, người các nơi khác cũng đến xin giống cây về trồng. Ngày nay, bưởi Năm Roi được trồng nhiều nhất là ở Phú Hữu, Châu Thành, Hậu Giang và  huyện Bình Minh, Vĩnh Long. Có thể nói chỉ có hai nơi này là trồng bưởi Năm Roi chất kượng nhất. Cây ít bị sâu bệnh, trái ngọt và to.

Tương truyền, sợ con cháu trong nhà hái trái làm mất giống cây quí nên ông Bưởi đe: “Đứa nào mà hái trái cây của ông Bưởi là ông đánh năm roi nghe chưa”. Vì câu nói của ông, giống bưởi có tên gọi là “Năm Roi”. Bưởi năm roi có tên gọi từ đó.

Còn sầu riêng Sáu Ri là lấy tên theo tên ông Sáu Ri ở ấp Phước Định 1, xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long, từ những năm đầu thập niên 1990 đã nổi tiếng là người tiên phong trồng và cho ra trái một giống sầu riêng mới: cơm vàng, khô ráo, cầm không dính tay; hạt lép, vị ngọt, mùi thơm. Loại sầu riêng này có phần ngon hơn. sầu riêng Cái Mơn bên Bến Tre.

Đi một ngày thấm mệt, chúng tôi vào giấc ngủ sâu cho đến sáng. Khách sạn bao luôn bửa ăn sáng trong giá phòng chúng tôi dùng điềm tâm cũng với món hủ tiếu Nam vang,

Chúng tôi đi vô chợ kiếm trái dừa sáp dùng thử cho biết. Đây là loại đặc sản hiếm chẳng nơi nào có. Chỉ có ở Cầu Kè, Trà Vinh mới có giống dừa độc đáo này. Năm 1992. Giá một trái dừa sáp chỉ gấp rưởi, gấp đôi giá trái dừa xiêm. Nghe nói sau này, trong những dịp lễ hội. một trái dừa sáp có giá lên tới 300000-400000 đồng.

Theo người địa phương, dừa sáp Cầu Kè có nguồn gốc từ một giống dừa ở Philippines, nhưng các cây giống lại do một sư ông từ Campuchia mang về năm 1942. Ban đầu, cây dừa sáp được trồng trong chùa, sau thấy trái lạ và ngon nên người dân quanh vùng xin giống mang về vườn nhà trồng.

Dừa sáp chỉ khác dừa bình thường ở ruột trái, còn lại cây, lá, vỏ, điều kiện thổ nhưỡng không khác gì dừa thường. Sau hơn nửa thế kỷ trồng, tích luỹ nhiều kinh nghiệm, người nông dân Cầu Kè nhân được 5 giống dừa sáp: sáp tròn, sáp dài, sáp có cạnh, sáp vỏ xanh và sáp vỏ vàng.

Ruột trái dừa sáp dày gấp đôi (hoặc gấp ba) ruột trái dừa thường, gồm 3 phần: phần ruột sát vỏ dẻo ít, phần ruột tiếp xúc với nước dừa mềm và rất dẻo, trong cùng là nước dừa (ít hơn nước trái dừa thường rất nhiều, thể lỏng sền sệt, vị ngọt nhẹ). Dừa sáp chủ yếu được nạo ăn trực tiếp. Miếng dừa dẻo, ngọt, thơm và một chút  beo béo . Cơm dừa sáp còn được dùng xay sinh tố (cùng đường, sữa, đá bào) uống rất ngon. Một số nhà hàng còn dùng cơm dừa sáp trộn với các loại trái cây xắt hạt lựu ướp đá làm món tráng miệng hấp dẫn.

Rời Vĩnh Long, chúng tôi theo quốc lộ I đến bến phà Cần Thơ. Chúng tôi lấy phòng ở khách sạn  Kim long tọa lạc tại trung tâm thành phố , gần chợ Cần thơ.

Để hành lý lại khách sạn, chúng tôi lên đường đến Sóc Trăng, nơi có Chùa Dơi nổi tiếng.

Tới ngã ba Tân Phú Thạnh, chúng tôi rẻ vào quốc lộ I, đi một lèo tới Sóc trăng. Khoảng cách chừng trên 30 km. Chùa Dơi tọa lạc ở số 73B đường Lê Hồng Phong, phường 3, thành phố Sóc Trăng,cách trung tâm thành phố khoảng 2km

Gọi là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của hàng vạn con dơi, phần lớn có sải cánh 1-1,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m.. Trên những cành cây khắp khuôn viên chùa rộng lớn  là nơi cư trú của hàng vạn con dơi quạ từ bao đời nay, chúng treo mình xếp cánh, úp mặt, móc chân lủng lẳng dày đặc trên những cành cây trong khuôn viên chùa vào ban ngày. Chừng khoảng 6 giờ chiều dơi bay đi kiếm ăn đến 5 giờ sáng hôm sau lại quay về. Ðiều thú vị nữa là dơi không bao giờ ăn và phá hại trái cây trong khu vực chùa, nơi chúng nương náu.

Thật ra gọi đúng tên chùa là Chùa Mã Tộc ( chùa Wathsêrâytecho Mahatup) được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Khmer cách đây 400 năm tại tỉnh Sóc Trăng và đã được trùng tu nhiều lần. Chùa có tôn trí pho tượng đức Phật cổ bằng đá cao 1,5m và nhiều bộ kinh luật viết trên lá cây thốt nốt.

Buổi chiều chúng tôi về lại Cần Thơ ,đi vào chợ mua trái cây. Quán cơm ở gần chợ giá cả vừa phải mà ngon. Tối, chúng tôi đi dạo trên bến Ninh Kiều.

Bến Ninh Kiều nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông này và sông Cần Thơ, đường Hai Bà Trưng, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đi dạo trong phong cảnh sông nước hữu tình bên dòng Hậu Giang hiền hòa đón gió lộng từ sông lên thật thú vị vô cùng.

Bến Ninh Kiều trước đây là một bến sông ở đầu chợ Cần Thơ. Ninh Kiều ngày ấy có tên là bến Hàng Dương, hàng ngày tấp nập thuyền bè qualại. Con đường Hai Bà Trưng hiện nay trước đây là đường Lê Lợi, nên dân chúng gọi bến sông là bến Hàng Dương hay là bến Lê Lợi. Năm 1958 bến sông và công viên này được đặt tên là bến Ninh Kiều để kỷ niệm một trận đánh oanh liệt của Lê Lợi chống quân Minh:

“Tuy Động thây phơi đầy đất
Ninh Kiều máu chảy thành sông”.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi thuê chiếc tác ráng len lỏi vào chợ nổi Cái Răng. Ở miền Tây là vùng sông nước nên có nhiều chợ nổi nhưng chợ Cái Răng của Cần Thơ là nổi tiếng nhất.

Chợ chỉ cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 5 km và buôn bán nhộn nhịp từ sáng sớm đến khỏang 8-9 giờ thì vãn.Lúc này khoảng 6h sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau để cùng tham gia chợ nổi.Trên thuyền chất đầy hàng hoá,phổ biến là các loại trái cây, các sản phẩm miệt vườn được treo lủng lẳng trên một cấy sào cắm trươc mũi ghe mà người địa phương gọi là “cây bẹo”. Vì thế mà người mua chỉ cần nhìn vào “cây bẹo” là biết được trên ghe bán thứ gì. Chợ nổi Cái Răng là chợ đầu mối chuyên mua bán sỉ các loại trái cây, nông sản của vùng. Hàng hoá ở đây với số lượng lớn và mỗi mặt hàng đã được phân loại nên đồng đều về chất lượng kích cỡ. Nếu như dân địa phương và các vùng lân cận sử dụng các ghe xuồng trung bình chở các mặt hàng nông sản đến đây tiêu thụ thì những ghe bầu lớn là của các thương lái thu mua trái cây toả đi khắp nơi, thậm chí đưa sang tận Campuchia.

Giờ này cũng là lúc chợ nổi sôi động nhất, cả khu chợ như phình to ra, lấn gần hết cả lòng sông. Mọi thứ âm thanh loạn cả lên. Nào là tiếng máy nổ, nào là tiếng chèo khua nước,tiếng sóng vỗ òm oạp vào mạn thuyền rồi tiếng cười nói, tiếng người mua kẻ bán, tất cả tạo nên một vẻ sầm uất và xô bồ không kém gì những khu chợ trên cạn. Nhịp sống năng động ở chợ trên sông thể hiện qua những chiếc ghe nhỏ bán thức ăn, cà phê thậm chí cả đồ nhậu len lỏi trong chợ, phục vụ nhu cầu của tất cả mọi người từ đàn ông, phụ nữ đến trẻ em. Chỉ cần 4.000-5.000 đồng cho một bát hủ tiếu hay 2.000 đồng cho ly cà phê đá – tuy không ngon lắm nhưng bạn sẽ rất thú vị khi được thưởng thức nó trong không khí mênh mang sông nước. Ở chợ nổi còn có đầy đủ các loại dịch vụ từ sửa máy, sửa cân,ghe bán xăng dầu đến những cửa hàng bách hoá như mỹ phẩm, mắm muối, thuốc tây, bánh kẹo…Các xuồng dịch vụ nhỏ gọn, len lỏi rất thiện nghệ áp mạn ghe bán hàng rồi thu tiền, nhưng tất cả đều nhường nhịn nhau. Thỉnh thoảng lẫn trong những đám thuyền ghe chở đầy hoa quả, hàng hoá, lại thấy thấp thoáng những chiếc tàu du lịch cỡ nhỏ phục vụ khách thăm quan, trong đó có  khách nước ngoài. Khách ta, khách tây đủ loại tất cả như bị cuốn vào nhịp buôn bán sôi động đang diễn ra trên sông. Nhìn quang cảnh và sinh hoạt chợ nổi Cái Răng  tôi đã hiểu thêm được biết bao điều về con người, cách sống và những nét sinh hoạt đặc trưng của người dân Nam Bộ. Quả là thú vị.

Đi trên sông nước ,ngắm cảnh bình minh đang lên, chúng tôi tận hưởng những làn gió mát rượi vào buổi sáng sớm mang hơi thở phù sa và dường như có cả cái hồn của châu thổ.

Đến Cần Thơ, nghe bánh xèo của bà Mười Xiềm nổi tiếng ở Trà Nóc, cách Cần Thơ chỉ 15km, chúng tôi cũng muốn đến ăn thử một lần cho biết. Nghe nói quán bà Mười nằm bên vệ đường, mái lá ọp ẹp như tất cả những chòi lá miền quê sông nước khác nhưng khách phải xếp hàng đợi lâu mới có bánh..

Thích thì thích nhưng khi nghe đường đi thì gần nhưng có vô số những cây cầu nhỏ xíu  bắc qua nhiều con lạch nhỏ miền quê nên chúng tôi ngại, lở sơ ý té cả xe lẫn người xuống lạch thì khốn.

C húng tôi vội vã lên đường theo quốc lộ 91 đi Long Xuyên. Chiều đi tiếp về Sa đéc.

Không có nhiều thời gian nên chúng tôi chỉ  ghé qua  thị xã Long Xuyên, đi một vòng, ăn trưa xong chúng tôi hỏi đường nào gần nhất đi qua Sa đec, nhiều người chỉ cùng một lối đi: Qua phà Vàm Cống, men theo quốc lộ 80 mà đi. Người ta còn cảnh báo là đường xấu lắm. Tôi không hỏi kỹ chỉ nghĩ xấu lắm là đường ổ trâu , ổ voi, mình cứ tránh là được. Không ngờ, chuyến đi từ phà Vàm Cống về tới Sa đéc là một thảm họa thật sự. Con đường quốc lộ 80 đi song song với một dòng kênh thẳng tắp đang được làm mới, đang còn ở giai đoạn đổ đá nền . Những tảng đá hộc, kích cở bằng hai bàn chân đang còn lổn chổn trên đường nên  xe gắn máy nhảy lóc chóc như phi ngựa không thể nào chạy mà không té nên tôi phải dắt xe dẩn bộ. Mặc dù vẫn để máy nổ nhưng đi một đoạn chúng tôi phải dừng lại nghỉ. Mệt muốn đứt hơi. Đường vắng không một bóng người và xe cộ. E chừng qua hai mươi km đường như vậy chúng tôi mới tới đoạn đường tráng nhựa về Sa đéc. Đoạn đường chiến binh đó chúng tôi vừa đi vừa nghỉ mất hơn hai giờ đồng hồ. Tới Sa đéc, trời chiều sập tối. Hú hồn.

Tới khách sạn chúng tôi tắm rửa nghỉ ngơi một chút rồi hỏi tiếp tân khách sạn quán  hủ tiếu Sa đec nào ngon.

Họ chỉ một quán bình dân trên một con đường nhỏ có món ngon đặc biệt là hủ tiếu khô. Họ cam đoan với tôi,ăn một lần là nhớ mãi vì  chỉ có ở xứ này thôi.

Bất ngờ đầu tiên là hủ tiếu được trình bày trong đĩa thay cho tô. Cọng bánh cũng to hơn bình thường và trắng ngà. Người ta để lên đó những tim, gan và thịt heo xắt thành từng lát to che gần kín đĩa. Món ăn trông hấp dẫn hơn nhờ một loại nước xốt màu vàng đậm được rưới lên trên, thoang thoảng mùi thơm. Đĩa hủ tiếu còn được tô điểm bằng vài cọng hẹ, cải xà lách xắt nhuyễn và một ít hành phi.

Chúng tôi ăn khi dĩa hủ tiếu còn nóng và  trộn đều cho nước xốt thấm vào từng sợi hủ tiếu. Thứ nước dùng sền sệt, beo béo và đậm đà quyện lấy từng sợi hủ tiếu vừa mềm vừa dai tạo một cảm giác ngon miệng đặc biệt.

Được biết, công thức pha chế loại nước xốt lạ này là “bí kíp” riêng của quán hủ tiếu ở đây. Khác với sợi bánh khô dùng cho hủ tiếu Mỹ Tho, sợi bánh hủ tiếu Sa đec chúng tôi ăn là loại hủ tiếu tươi được làm bằng bột gạo.

Hủ tiếu Sa Đéc trước nay được xếp vào hàng món ngon Nam Bộ, sánh ngang với hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho. Nhưng ẩm thực Sa Đéc có phần còn phong phú hơn khi ngoài món hủ tiếu nước, hủ tiếu khô thì họ còn có thêm món hủ tiếu hấp cũng thú vị không kém.

Chúng tôi đi xe gắn máy tà tà quanh thị xã. Chỉ có mấy con đường phố hiền hòa. Chúng tôi ghé tới chợ trái cây bán đêm bên bờ sông. Dưới cột đèn đường chiếu ánh sáng vàng vọt là một dãy những người bán nhiều loại trái cây. Mỗi người bán để trên gánh hàng của mình một cây đèn măng-sông (manchon) nên cả dãy hàng dài bốn năm chục mét sáng rực trên lề đường ven sông.

Chúng tôi chú ý ngay một cô gái đẹp nổi bật giữa những người bán hàng.

Cô gái có dáng dấp và vẻ đẹp mặn mà thôn nữ nhưng phong thái kiêu sa như con nhà khuê các, lời ăn tiếng nói dịu dàng lễ phép, đặc biệt là giọng Nam bộ ngọt như mía lùi.

Hàng trái cây của cô cũng tươi và đẹp. Những trái xoài tươi múp míp còn nguyên cuống xanh. Bà xã tôi hỏi “ Chục nhiêu ?”( bao nhiêu tiền một chục) bắt chước giọng người nam nhưng vẫn lòi cài đuôi giọng Huế trọ trẹ. “ Dạ, mười ngàn, xoài cát Hòa Lộc đó cô”. “ Chắc không?”. “ Cô mua lầm chứ bọn em bán đâu có lầm, người Sa đéc thật thà lắm cô”. ”Cô cứ coi, xoài cát Hòa lộc và xoài cát Chu nhìn giống nhau nhưng cát Chu múp, màu vỏ ngả qua màu vàng nghệ, xoài cát Hòa Lộc hình dạng thuôn dài, vỏ màu vàng mơ. Mùi thơm xoài cát Hòa lộc bay xa. Đặc biệt phía bụng từ cuống tới đầu trái xoài cát Hòa Lộc có cái rảnh nhõ mà cát Chu thì không có”.

Bà xã tôi rất thích xoài cát Hòa lộc, thấy xoài tươi ngon giá rẽ thích mua nhiều nhưng tôi cản vì cồng kềnh quá( ở Sài gòn một chục mười quả tươi ngon thế này giá cũng đến hai chục ngàn đồng). Vừa ngồi lựa xoài vừa nói chuyện với cô gái, chúng tôi biết là cô gái sắp theo gia đình đi Mỹ theo diện HO. Cha cô là trung tá trong quân đội Sài gòn, đi “ học tập cải tạo” về mấy năm rồi, cửa nhà sa sút, cô phải bỏ học đi bán phụ cha mẹ nuôi gia đình. Mẹ cô là dòng dõi của ông Huỳnh Thủy Lê, một đại điền chủ của vùng đất Sa Đéc xưa kia.

Ông Huỳnh Thủy Lê là nhân vật chính được nhắc đến trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Người tình” (L’amant) của nữ văn sĩ Pháp danh tiếng Marguerite Duras. Đó là một chuyện tình có thật gắn liền với ký ức thời thiếu nữ của bà lúc bà mới 15 tuổi .Trên chuyến phà theo dòng sông Mê Kông nối liền Sa Đéc với Vĩnh Long, bà đã gặp người tình của mình, ông Huỳnh Thủy Lê. Từ đó, một thiên tình sử tráng lệ ra đời.

Truyện”Người tình”  đã được dựng thành phim, do Jean-Jacques Annaud đạo diễn lấy bối cảnh là Sa đec,  trường Marie Curie ở Sài gòn và khu Chợ lớn, với các ngôi sao Jane MarchLương Gia Huy và Lisa Faulkner. Bộ phim bắt đầu được bấm máy tại Việt Nam năm 1986, hoàn thành năm 1990 . Thời gian làm phim là bốn năm nhưng họ mất hai năm đầu chỉ làm công việc tiền trạm và thiết kế. Phim do hãng Cinematic Hongkong và Liên hiệp điện ảnh băng từ TP HCM làm dịch vụ. Cuối năm 1991, Người tình đã được công chiếu ở TP HCM. Việt Nam. Tuy nhiên, bản phim chiếu tại Việt Nam là bản tiếng Pháp đã bị cắt hầu hết cảnh nóng so với bản tiếng Hoa và tiếng Anh.

Bà xã tôi lựa xong 12 trái xoài (cứ nghĩ là chục mười hai trái là tốt lắm rồi), đưa cho cô gái bỏ vào túi xách. Cô gái hỏi “ Cô mua một chục hả? Lựa thêm đi cô, ở  Sa đéc chục mười tám lận cô à.”

Chúng tôi rất ngạc nhiên và vô cùng cảm kích. Chục mười tám. Nghe có lộn không đây?

Chúng tôi đã mua xoài, măng cụt, cam quýt và những trái cây tính chục. Ở Sài gòn chục là 10 trái. Mỹ Tho chục mười hai, Bến Tre chục 12, Cái Bè chục 14, Vĩnh long chục 14, Cần Thơ chục 12. Không nơi đâu có chục 18 như ở Sa đéc.

Bây giờ khắp đất nước Việt Nam, ở đâu người ta mua bán hàng hóa cũng theo trong lượng tính bằng kilogram. Thời kỳ bán mớ rau, bán nạm hành, bán rổ cá , bán ngảo tôm, đong lon  gạo bán mẹt trái cây đã qua rồi. Bây giờ tôi kể lại chuyện này với cách bán trái cây tính chục là kể chuyện cổ tích. Trong chuyện cổ tích đó có chuyện mua xoài CHỤC MƯƠÌ TÁM ở Sa đec.
*                *

*

Chục nguyên nghĩa là 10. Nhưng khái niệm chục trên đất Nam bộ là một con số biến thiên theo quy chuẩn của mỗi vùng, mỗi tỉnh thành. Chục là mười mấy tùy theo mỗi địa phương. Đó là một chuẩn mực được sự đồng thuận của hầu hết mọi người trong vùng miền đó. Chẳng ai thắc mắc vì sao như thế. Vùng này vùng kia không nhìn nhau mà toan tính thiệt hơn. Đây là một nét vô cùng đặc trưng của người Nam bộ lúc đó.

Từ Sài gòn ra miền Trung, lên miền Bắc chẳng có nơi nào mua bán mà tính chục theo lối nói của người Nam bộ. Chục là 10. Thế thôi. Làm chi mà có chục 18?

Người Nam bộ có những tố chất rất đáng quý, đáng mến. Tính tình họ bộc trực thẳng thắn,ruột để ngoài da, không thích vòng vo, chúa ghét ba xạo. Họ hào phóng, hiếu khách, Họ trọng nghĩa khinh tài. Họ chân tình và thật thà. Không nơi nào ở miền Bắc ,ở miền Trung mà con người đồng đều có nhiều tố chất tốt đẹp như vậy.

Chục mười tám thể hiện sinh động tính hào phóng của người dân Nam bộ. Chục mười tám ghi một vết son đậm nét trong lòng tôi. Cả đời tôi sẽ luôn nhớ đến cô gái đẹp “ chục mười tám” một lần gặp gở ở chợ trái cây Sa đéc.

*            *

Sáng hôm sau,chúng tôi theo lời giới thiệu của cô tiếp tân khách sạn đi ăn một món đặc sản khác cùa thị xã Sa đéc. Món chả cua đồng.

Trên đĩa sứ trắng tinh bày biện rất khéo là màu xanh của dưa leo, màu đỏ cà chua, chính giữa là một khối chả cua đồng màu nâu sẫm có rắc đậu phộng rang giã giập cùng vài cọng ngò điểm xuyết phía trên trông thật bắt mắt. Cạnh đó là một đĩa bánh phồng tôm chiên vàng nóng hổi, thơm lựng. Tôi lấy miếng bánh phồng tôm xúc một ít chả cua đồng bỏ lên miếng bánh rồi đưa vào miệng. Vị ngọt, mềm, thơm của riêu cua, vị chua chua, giòn giòn của cà, dưa leo kết hợp vị béo của bánh phồng tôm giòn tan trong miệng,kích thích mọi giác quan, thật là ngon tuyệt vời!

Ăn sáng xong, chúng tôi ra quán cà phê cóc ven sông, nhìn nước chảy bèo trôi, thuyền bè đi lại, nhâm nhi tách cà phê, nói với nhau chuyện chục mười tám và cảm nhận sâu sắc cái sự hào phóng và tình tự của người Nam .

Xong , chúng tôi ghé thăm vườn hồng Tư Tôn nổi tiếng ở Sa đéc.

Cho tới xế chiều chúng tôi mới về tới nhà.

Chúng tôi đã thực hiện một hành trình qua bảy tỉnh trong 4 ngày 3 đêm vô cùng kỳ thú qua dặm trường mấy trăm cây số. Mệt nhưng vui.

Với tôi, sau chuyến đi, cho đến bây giờ, điều đọng lại mang tính nhân văn sống động nhất, đáng nhớ nhất là CHỤC MƯỜI TÁM.

 

Lê Duy Đoàn,

Sài gòn,12/6/2013.

 

 Chú thích:

1.                  Tông banana ( tục) : Tiếng Đại Hàn nghĩa là chuối cứt.

2.                  Nam kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh là tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn độc lập, tức là khoảng thời gian từ năm 1832 (cải cách hành chính của Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây). Đương thời, người Pháp gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh bằng cái tên Basse-Cochinchine (tức là vùng Cochinchine “hạ” hay vùng Hạ Đàng Trong).

Vua Minh Mạng năm 1832 đã đổi các trấn thành tỉnh, đặt ra Nam Kỳ và chia đất Nam Kỳ, vốn trước là tổng trấn Gia Định, thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh. Đó là các tỉnh:

·                     Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông;

Trong dân gian, còn chia thành ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Qua nhiều chính thể, cho đến bây giờ miền Nam Việt nam chia ra thành 17 tỉnh.

Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía nam và hai thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Khu vực này chia làm 2 vùng chính:

( Theo Wikipedia tiếng Việt)

 

Tham khảo và trích dẫn:

Chúng tôi chân thành cám ơn các tác giả có bài viết được tham khảo và trích dẫn trong bài viết này:

–                      Chợ nổi Cái Răng: Trích Du lịch Văn hóa Việt.

–                      Hủ tiếu Mỹ tho: Trần văn Chi theo NVOL.

–                      Hủ tiếu sa tế: Thanh Viên – Viet Press.

–                      Hủ tiếu Sa đec: Chí Nhân- Saigonamthuc.

–                      Về Sa đec ăn chả cua đồng. Tuổi trè và Đất Việt.

–                      Sầu riêng Sáu Ri: Traicaymiennam.vn.

–                      Sầu riêng Cái mơn: Đặc sản vùng miền.

–                      Bưởi Năm Roi: Wikipedia tiếng Việt.

–                      Dừa sáp: Đài phát thanh và truyền hình Cần Thơ.

Post Navigation