Dưới Mắt QH1964

Câu Chuyện Văn Chương của Học Trò Huế

Archive for the month “July, 2013”

Sau Khi Về Thăm Huế (Trần Ngọc Cư)

Xin chia sẻ với quí vị một số cảm nhận về quê hương sau những chuyến về thăm gần đây.

 .
Trân trọng,
Trần Ngọc Cư
 .
Huế tôi
 .
Huế tôi ở với Huế người
Có nhiều quán nhậu bán mồi cầy tơ.
Tôi về thăm Huế tuổi thơ
Giữa mùa cờ đỏ, cờ chùa tung bay.
.
May 2012 
 .
Quê hương
 .
Quê hương đâu cần là trái ngọt,
hay cánh diều vẫy gọi trên đê…
Nó vận vào ta như là phận số
đẩy ta đi trọn kiếp người.
Quê hương giúp ta hiểu được
Những người vượt biên sống sót
vẫn về phố cũ tươi cười …
Quê hương mở ra toang hoác
bản năng bí nhiệm cá hồi.
 .
Ao nhà
 .
Ta trở lại ao xưa
tìm gặp bạn bè
một thời làm ễnh ương
chỉ nghe hơi lạnh ngoài da
đã kêu vang một góc trời thôn dã.
Ôi dẫu sao, đó cũng là
cái thời sôi nổi,
như người ta vẫn gọi,
tuổi thanh xuân!
 .
Nay ễnh ương đâu rồi
hay họ đã hóa thân
mang lớp da sù sì không còn nhạy cảm.
Ta về ta tắm ao ta
Gặp bầy sấu ngủ, ao nhà ta đâu?
 .
Thằng cù lần nói với dòng sông
 .
Trong một kinh thành lên cơn ngứa,
Muốn thân thương, phải biết gãi cho nhau.
Tự đáy lòng nếu còn gì thẳng thắn,
Một đôi điều xin nói với dòng sông:
 .
Từ cầu Chợ Dinh ngó về Cồn Hến
Đây sương mù hay là cõi Liêu Trai?
Này Sông Hương, nường có là phù thủy?
Ta đã ra đi, nường níu áo ta về.
Festival 201
Advertisements

Lộng Giả Thành Chân (Trần Ngọc Cư dịch)

Lộng giả thành chân – Những điều tốt lành về nền kinh tế hàng nhái của Trung Quốc

Tháng 7 14, 2013
Kal Raustilia và Christopher Sprigman
Trần Ngọc Cư dịch
Dẫn nhập
Một điều khá nghịch lý là bài tiểu luận này được viết bởi hai chuyên gia về luật sở hữu trí tuệ Mỹ, nhưng gần như để biện minh cho hiện tượng các doanh nghiệp và cá nhân Trung Quốc đã và đang ào ạt sao chép sản phẩm phương Tây một cách công khai với sự khuyến khích của chính quyền Bắc Kinh. Và cũng là điều đáng suy nghĩ khi cuốn The Knockoff Economy: How Imitation Sparks Innovation (Kinh tế hàng nhái: Sự bắt chước đã châm ngòi cho sang kiến như thế nào) của Raustilia và Sprigman xuất hiện giữa bối cảnh các cuộc đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang gặp trở ngại vì những mâu thuẫn giữa Mỹ và các đối tác tiềm năng của Mỹ về quyền sở hữu trí tuệ. Câu hỏi cần đặt ra ở đây là liệu Mỹ có cần nhượng bộ hay không trong lãnh vực quyền sở hữu trí tuệ để có thể thực hiện một liên minh kinh tế nhằm quân bình lực lượng với ảnh hưởng kinh tế-chính trị của Trung Quốc.
Một điểm đáng tranh luận khác là quan hệ giữa lao động và sáng tạo. Để khai thác giá nhân công rẻ tại thế giới đang phát triển, đặc biệt tại Trung Quốc, nhiều công ty phương Tây chủ yếu là Mỹ đã đưa hoạt động chế tạo (manufacturing) ra nước ngoài, tạo nên một sự cách ly giữa lao động và sáng tạo ngay chính trong công ty cũng như trên đất nước của mình. Do đó, một câu hỏi khác cần đặt ra là, làm sao người phương Tây đặc biệt là Mỹ vẫn tiếp tục phát huy sáng kiến của mình về các sản phẩm khi họ không còn trực tiếp tham gia vào tiến trình chế tạo các sản phẩm đó? Ý kiến cho rằng Hoa Kỳ là “một xã hội có tinh thần phát minh cao” có lẽ đúng với thế kỷ 20 hơn là với thế kỷ 21, khi Trung Quốc vận dụng những nhà máy của các công ty nước ngoài như những trường thực hành cho công nhân bản địa, giành lấy cơ hội “vừa học vừa làm”, vừa sao chép vừa sáng tạo, của người Mỹ trước đây.
Người dịch
_______________
Không ai biết chắc tại sao một số xã hội có nhiều sáng kiến hơn những xã hội khác. Hoa Kỳ là một xã hội có tinh thần phát minh cao, là nơi phát sinh một loạt công nghệ – máy bay, bom hạt nhân, Internet – đã biến đổi thế giới. Trái lại, Trung Quốc hiện đại lại thường bị chỉ trích về nạn sao chép tràn lan các phát minh và tác phẩm sáng tạo nước ngoài. Từng là quê hương của thuốc súng, công nghệ in, và nhiều phát minh khác làm biến đổi xã hội, Trung Quốc ngày nay nổi tiếng hơn các nước khác về hàng nhái gần như đủ mọi sản phẩm mà ta có thể tưởng tượng được: xe hơi, áo quần, máy vi tính, thức ăn nhanh, dược liệu, thậm chí nguyên cả những ngôi làng châu Âu. Hoa Kỳ cho ra đời chiếc iPhone, thì Trung Quốc cho ra đời chiếc HiPhone – bản sao rẻ tiền của một thiết bị có tính đột phá của Mỹ.
Một số người thấy được gốc rễ văn hóa sâu xa của nạn sao chép tràn lan tại Trung Quốc. Nhưng một quan điểm thông thường hơn thì cho rằng, Trung Quốc không có phát minh vì nước này thiếu những biện pháp mạnh mẽ và vững bền để bảo vệ sở hữu trí tuệ. Nhiều luật gia và chuyên gia kinh tế tin tưởng rằng quyền sở hữu trí tuệ là thiết yếu vì chúng đảm bảo rằng phần thưởng kinh tế của phát minh sẽ thuộc về người phát minh. Lý luận này cho rằng, nếu không có những biện pháp bảo vệ như thế, hàng nhái sẽ phá giá và qua mặt hàng gốc. Việc này sẽ gây nên tình trạng khan vốn đầu tư trong lãnh vực phát minh. Lý luận cơ bản là rất dễ hiểu: công việc phát minh bền vững cần đến những luật sở hữu trí tuệ nghiêm khắc, và những nước quá rộng lượng đối với việc sao chép sản phẩm sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Và vì trong một nền kinh tế toàn cầu hóa, việc sao chép diễn ra ở nước ngoài có thể gây tai hại giống hệt như việc sao chép diễn ra ở trong nước, lý luận này cũng làm cơ sở cho một loạt hiệp định quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ, mà hầu hết những quốc gia quan trọng đều phê chuẩn, trong đó có Hiệp định của WTO về các Khía cạnh Quyền Sở hữu Trí tuệ Liên quan đến Mậu dịch, được phê chuẩn năm 1994, và nhiều hiệp định song phương thậm chí còn nghiêm khắc hơn nữa, mà nhiều quốc gia đã ký kết kể từ thời điểm đó.
Là thành viên của WTO, Trung Quốc có bổn phận phải theo đúng những qui chế này. Nhưng sự tuân thủ của Trung Quốc còn nằm dưới chuẩn quá xa, khiếnWashingtonluôn bực bội. Tường trình với báo chí tại Nhà Trắng vào tháng Hai năm nay, Thứ trưởng Ngoại giao Robert Hormats gọi việc các hãng và các cá nhân Trung Quốc đánh cắp sở hữu trí tuệ  tràn lan là “một vấn đề nghiêm trọng và rất đáng lo lắng”. Mặc dù những con số ước tính thiệt hại do việc Trung Quốc vi phạm tác quyền gây ra cho nền kinh tế Mỹ khác nhau quá xa và thay đổi theo giả định, nhưng Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ước tính rằng chỉ nội trong năm 2011, số thiệt hại lên gần 50 tỉ Mỹ kim.
Đối với giới làm chính sách và lãnh đạo Mỹ, qui mô và phạm vi của nạn làm hàng nhái tại Trung Quốc có thể nói là tồi tệ; nhưng còn tồi tệ hơn nữa, đó là việc nó được khuyến khích bởi một chính sách công khai mệnh danh là “sáng kiến bản địa”. Theo một văn kiện hoạch định chính sách được chính phủ Trung Quốc đưa ra năm 2006, sáng kiến bản địa bao gồm “việc làm tăng giá trị của sáng kiến nguyên thủy thông qua việc đồng-phát kiến (co-innovation) và tái-phát kiến (re-innovation) dựa vào việc hấp thụ công nghệ nhập khẩu”. Thật là chính đáng, khiWashingtonxem văn kiện này như một cách Bắc Kinh bật đèn xanh cho việc vi phạm tác quyền. Chính phủ Hoa Kỳ coi việc kiềm chế nạn sao chép sản phẩm tại Trung Quốc là tối cần thiết, đã thúc đẩy Trung Quốc phải thay đổi đường lối – và kiện Trung Quốc trước WTO.
Nhưng sự lo lắng và giận dữ của Mỹ về việc Trung Quốc vi phạm tác quyền được đặt không đúng chỗ. Sao chép không phải là cái nạn dịch ghê gớm mà các lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà chính trị Mỹ thường cố tình vẽ ra. Thật vậy, sao chép không luôn luôn xung khắc với sáng kiến, mà thường là một phần quan trọng của sáng tạo. Dù việc sao chép có mặt tai hại, nhưng nó cũng có mặt hữu ích. Gần như tất cả mọi sáng tạo đều phải dựa vào công trình của người đi trước, và việc có thể tự do sao chép và cải tiến những thiết kế hiện có sẽ tiếp sức cho nhiều lãnh vực khác nhau như thời trang, tài chính và công nghệ phần mềm.
Đối với các công ty và cá nhân Trung Quốc, sao chép có những lợi ích không thể cưỡng nổi, vượt khỏi việc đơn thuần là bán giá rẻ hơn các công ty cạnh tranh phương Tây. Nhiều người Trung Quốc đã tiếp thu những kỹ năng thiết kế và chế tạo quí giá bằng cách sao chép những hàng hóa nguyên thủy sản xuất ở nước khác. Kết quả của việc bắt chước này là những sản phẩm và dịch vụ vừa túi tiền, cho phép hàng triệu người Trung Quốc được hưởng những cái bề ngoài dễ chịu của một xã hội tiêu thụ. Và của cải được tạo ra do việc vi phạm tác quyền đã góp phần vào sự tăng trưởng của một giai cấp trung lưu Trung Quốc đang trỗi dậy, giai cấp tiêu biểu cho một vựa tiềm năng vĩ đại gồm những khách hàng mới cho các công ty phương Tây bán hàng thật.
Vì những lý do này, bất cứ một chính sách hợp lý nào đối với nền kinh tế hàng nhái của Trung Quốc đều phải bắt đầu bằng nhận thức thấu đáo rằng sao chép và sáng tạo có liên hệ mật thiết với nhau và rằng việc sao chép là một lực vừa tốt vừa xấu. Vì việc sao chép của Trung Quốc vừa mang lại những lợi ích vừa gây ra những thiệt hại, đồng thời nếu xét đến sự đề kháng mang tính lịch sử của Trung Quốc trước sức ép phương Tây, chúng ta sẽ đối diện một thực tế là, cố gắng thúc đẩy Trung Quốc thay đổi chính sách và cách hành xử là không xứng đáng với vốn liếng chính trị và ngoại giao mà Hoa Kỳ đang tiêu phí vì nỗ lực này.
HÀNG GIẢ CÓ THỰC CHẤT
Để hiểu rõ việc sao chép và phát kiến cùng tồn tại như thế nào tại Trung Quốc ngày nay,  chỉ cần nhìn vào Xiaomi (Tiểu Mễ), một trong những công ty công nghệ tăng trưởng nhanh nhất của Trung Quốc. Hoạt động chưa được bốn năm, Xiaomi đã bán được gần bảy triệu chiếc smartphone (điện thoại thông minh) và thu vào hơn bảy triệu yuan (tương đương 1,6 tỉ Mỹ kim) – những con số đầy ấn tượng đối với một công ty bán ra chiếc smartphone đầu tiên của mình vào tháng Tám 2011. Những chiếc điện thoại của Xiaomi trông quen thuộc vì nhiều thiết kế của công ty này bắt chước gần giống chiếc iPhone của Apple. Và thiết kế không phải là gợi ý duy nhất mà Xiao lấy từ Apple. Trong một buổi ra mắt sản phẩm gần đây, Lei Jun (Lôi Quân), người đứng đầu Xiaomi, đứng một mình trên sân khấu trong chiếc sơ mi đen, quần jean, và giày sneaker Converse đen – một hình ảnh quen thuộc đối với bất cứ ai đã từng thấy Steve Jobs, người sáng lập và là tổng giám đốc quá cố của Apple, giới thiệu sản phẩm mới tại một hội nghị Macworld [ở San Francisco]. Thông điệp của Lei thật rõ ràng: điện thoại của Xiaomi cũng tuyệt vời như điện thoại của Apple. Người tiêu thụ Trung Quốc như cá cắn câu, vui vẻ chấp nhận sản phẩm của Xiaomi, không hề có ảo ảnh về nguồn gốc của chúng: như một sinh viên Đại học Thượng Hải đã nói với The New York Timesgần đây: “Xiaomi làm hàng giả có thực chất (the real fake)”.
Tuy vậy, thành công của Xiaomi cũng dựa vào sự thể là công ty này không giống hẳn Apple. Ít ra nó cũng có một đặc điểm là, giá tiêu biểu của điện thoại do Xiaomi sản xuất chỉ bằng một nửa giá của đối thủ. Một điểm khác còn quan trọng hơn nữa, Xiaomi có một thái độ rất khác đối với việc phát minh. Apple có tiếng là sử dụng phương pháp tiếp cận đóng kín (closed approach) đối với việc phát triển sản phẩm. Công ty này tin tưởng rằng nó biết khách hàng mình muốn gì trước khi chính họ biết được điều này, do đó tiến trình thiết kế của Apple mang tính độc đoán. Trái lại, tiến trình thiết kế của Xiaomi hoàn toàn dân chủ. Cứ mỗi thứ sáu, Xiaomi đưa ra một loạt tin cập nhật phần mềm cho hệ điều hành di động của mình, một hệ thống dựa trên phần mềm nguồn mở Android của Google. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ sau đó, hàng ngàn người sử dụng ào ạt vào diễn đàn trực tuyến của Xiaomi để đề xuất những đặc điểm, chức năng, và thiết kế mới, cũng như phát hiện và giải quyết các lỗi phần mềm. Xiaomi đã dựa vào sự góp ý của người sử dụng để định dung lượng bộ nhớ cần được cài đặt trên điện thoại của mình, tầm quan trọng của chiều dày chiếc điện thoại đối với người sử dụng, và định xem điện thoại Xiaomi có nên cho phép người sử dụng chụp hình mà khỏi bấm nút hay không. Mặc dù Lei có thể ăn mặc giống Jobs, nhưng ông đã điều hành công ty mình rất khác.
Xiaomi không phải là công ty duy nhất vừa bắt chước vừa sáng tạo của Trung Quốc. Weibo (Vi Bác), dịch vụ mạng xã hội nổi tiếng nhất của nước này, có hàng trăm triệu người sử dụng. Công ty này xuất hiện năm 2009 như một phiên bản của Twitter không thèm che giấu. Từ đó đến nay, nó đã thêm vào nhiều đặc điểm để phân biệt mình với Twitter, bao gồm một hệ thống có tính tương tác cao hơn để người sử dụng cho ý kiến. Người ta có thể tranh luận rằng những cải tiến như thế làm cho Weibo trở nên có nhiều chức năng, và thích thú, hơn cả dịch vụ mà nó đã sao chép.
Một hàng nhái khác của Trung Quốc cộng thêm nhiều giá trị hơn nguyên bản là Youku (Ưu Khốc)– công ty này chỉ là một trong nhiều phiên bản Trung Quốc của YouTube. (Youku có thể dịch là “tuyệt vời”.) Khác với YouTube, Youku cho phép người sử dụng đưa lên mạng những video có chiều dài không hạn chế và khỏi cần chứng minh bản quyền. Điều này có nghĩa là Youku có khả năng làm máy chủ cho hàng trăm ngàn giờ lên chương trình bất hợp lệ. Nhưng dịch vụ này cũng hợp tác với hơn 1500 nhà cung cấp nội dung chuyên nghiệp để đưa đến người sử dụng những video hợp lệ, và dịch vụ Trung Quốc này còn đi xa hơn đối thủ Mỹ của mình rất nhiều trong việc cung cấp nội dung gốc. Thật vậy, Youku đã xuất hiện như một đối thủ nghiêm chỉnh của ngành truyền hình truyền thống tại Trung Quốc — một thắng lợi mà YouTube phải ganh tị.
CỨ SAO CHÉP VÔ TƯ
Quan niệm thông thường là sai lầm khi cho rằng phát kiến và bắt chước tự bản chất là xung khắc nhau. Trong một cung cách tương tự, quan niệm này cũng sai lầm khi chủ trương rằng Hoa Kỳ phải đi theo một đường lối rất cứng rắn để chặn đứng nạn đánh cắp sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc. Thật vậy, đường lối nặng tay củaWashingtonđối với văn hoá hàng nhái của Bắc Kinh là quá thô bạo và phản ánh một quan điểm ngây ngô về sáng kiến. Đường lối này cũng không có khả năng thành công, vì Hoa Kỳ khó khắc phục được những động cơ mạnh mẽ đã thúc đẩy những công ty và cá nhân Trung Quốc phải tùy thuộc vào việc sao chép sản phẩm nước ngoài.
Các công ty chế tạo Trung Quốc chiếm được thị phần (market share) tại Trung Quốc và những nước khác bằng cách cống hiến những phiên bản giá rẻ của các sản phẩm phương Tây. Qua quá trình sao chép, những công ty này vừa học vừa làm, thu thập những kỹ năng cần thiết để cải thiện các tiến trình sản xuất và sau cùng tự mình có thể sáng chế. Tự do sao chép cũng có một tầm ảnh hưởng xã hội quan trọng tại Trung Quốc. Một sản phẩm phụ nghiêm trọng do sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của nước này là tình trạng bất bình đẳng đang tăng vọt. Một nghiên cứu gần đây của Đại học Tài chính-Kinh tế Tây Nam, tại Thành Đô, cho thấy rằng Trung Quốc hiện nay là một trong những xã hội bất bình đẳng nhất trên trái đất. Hệ số Gini của Trung Quốc là 0,61 – hệ số Gini là một thước đo bất bình đẳng kinh tế, với số không (0) chỉ tình trạng bất bình đẳng ít nghiêm trọng nhất và số một (1) chỉ tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng nhất. Chỉ số đó đã đặt Trung Quốc ngang hàng vớiBotswanavàHaitinếu xét về tình trạng bất bình đẳng. Đây là một công thức dẫn đến bất mãn xã hội nghiêm trọng, nhất là khi giới nghèo khổ tại Trung Quốc ngày càng trông thấy những tiện ích mà xã hội tiêu thụ đương đại có thể cống hiến.
Điều này giúp ta hiểu được hiện tượng shanzhai (sơn trại) độc đáo Trung Quốc. Dịch theo nghĩa đen, shanzhai nghĩa là “đồn lũy trong núi” hay “sào huyệt của bọn cướp”. Nhưng theo cách dùng hiện nay, shanzhai chỉ hàng nhái giá rẻ, như các toà nhà (kể cả những ngôi làng Trung Âu dỏm mọc lên ở các vùng ngoại ô Trung Quốc), các cửa hàng (như các cửa hàng Apple dỏm tại Côn Minh bán sản phẩm Apple thật nhưng được tân trang lại) và thậm chí cả các sự kiện (chẳng hạn cuộc rước đuốc Olympic dỏm mà dân chúng các vùng quê Trung Quốc tổ chức khi cuộc rước đuốc chính thức đi qua miền của họ). Nhưng cũng như nhiều thứ khác ở Trung Quốc, ý nghĩa của shanzhaiđang thay đổi sâu sắc. Như nhật báo The Wall Street Journalnhận xét gần đây: “Trước đây nó là một từ dùng để chỉ một cái gì rẻ tiền hay kém chất lượng, ngày nay đối với nhiều người,shanzhai nói lên một trình độ khôn ngoan khéo léo nhất định của người Trung Quốc”. Thật vậy, Bắc Kinh tỏ ra tin tưởng rằngshanzhai là một cái gì cần nuôi dưỡng. Năm 2009, một quan chức của Cục Bản quyền Quốc gia Trung Quốc tuyên bố rằng “shanzhai biểu lộ óc sáng tạo văn hóa của người dân bình thường”. Ông nói thêm, “Nó đáp ứng một nhu cầu thị trường, do đó dân chúng thích nó”. Tất nhiên, văn hóa shanzhai ở một mức độ nào đó cũng thích hợp với nhận thức sau đây: Chính quyền Trung Quốc hi vọng rằng sự tự do sao chép tương đối này có thể giúp làm nhẹ bớt hoặc chí ít che đậy hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng  khoét sâu tại Trung Quốc.
Nhưng việc làm hàng nhái được dung dưỡng, và thậm chí có người cho rằng được khuyến khích bởi chính quyền Trung Quốc, không nhất thiết là một tai họa đối với các doanh nghiệp phương Tây. Dân số khổng lồ của Trung Quốc vẫn còn nghèo, và ít ai có thể mua sắm hàng hóa phương Tây. Do đó, hàng nhái  sản phẩm phương Tây không nhất thiết biểu hiện sự mất mối (lost sales). Thay vì như vậy, chúng thường đóng chức năng quảng cáo hữu hiệu cho hàng gốc (the originals): những sản phẩm mở đường này, về lâu dài, có khả năng thúc đẩy nhu cầu đòi hỏi hàng thật khi giai cấp trung lưu hiện đang đâm chồi của Trung Quốc trở nên lớn mạnh. Chẳng hạn, một số tiệm bánh mì xăng-đuýt Trung Quốc đang sao chép dáng vẻ và món ăn của chuỗi Subway, một công ty bán thức ăn nhanh của Mỹ. Các lãnh đạo Subway, một cách khôn ngoan, không phản ứng quá đáng. Alexander Moody Stuart, giám đốc quản lý của chuỗi hàng ăn nhanh này, gần đây đã nói với The Wall Street Journalrằng đối với một thương hiệu phương Tây như Subway, đang ra sức tạo ý thức quần chúng về một loại thức ăn mà người Trung Quốc không quen ăn, “việc nhái lại (mimicking) không hẳn là một điều xấu”. Trong một thị trường khổng lồ nhưng phần lớn chưa được khai thác như Trung Quốc, việc dân chúng tiếp xúc với sản phẩm (exposure) và viễn ảnh tăng trưởng của các loại hàng thật trong tương lai có thể khuynh loát được thị phần to lớn của hàng giả ngày nay. Và mặc dù sản phẩm shanzhaiđược người mua ca ngợi, nhưng những người Trung Quốc nào có điều kiện thì thường mua sản phẩm gốc.
Không lãnh vực nào minh họa bản chất nghịch lý của hàng nhái Trung Quốc rõ nét hơn các loại hàng xa xỉ. Theo phân tích năm 2012 của công ty tư vấn Bain & Company, cái đất nước đã một thời ép buộc công dân mình phải mặc áo kiểu Mao đã trở thành thị trường xa xỉ phẩm lớn nhất thế giới, thậm chí qua mặt cả Hoa Kỳ. Thị trường này không chỉ bán túi xách và các phụ kiện. Theo tin tức gần đây của Beijing Review, vào năm 2012, hãng Bentley Motors bán ra thế giới 8.510 chiếc xe, thì có đến 2.253 chiếc được bán tại Trung Quốc, biến thị trường này thành thị trường lớn thứ hai của thương hiệu. Thậm chí đối với cả Apple, lãnh địa của HiPhone vẫn còn sinh lãi: doanh thu của Apple tại Trung Quốc trị giá gần 25 tỉ Mỹ kim một năm, chỉ đứng sau doanh thu của nó tại Hoa Kỳ. Hơn nữa, Trung Quốc là nơi duy nhất trên thế giới mà lượng hàng bán ra của Apple đã gia tăng vào quí đầu năm 2013.
Như vậy, kinh tế hàng nhái Trung Quốc – đôi khi được cải thiện dọc đường – cho phép đưa sản phẩm đến tận tay người dân trung bình tại đây và trong tiến trình này giúp Trung Quốc và các công ty Trung Quốc có khả năng phát triển và cạnh tranh ngắn hạn. Còn về lâu dài, việc công khai sao chép sản phẩm nước ngoài có thể tạo nhu cầu đối với các sáng kiến phương Tây. Như Bill Gates, một trong hai người sáng lập Microsoft và không được coi là người có quan điểm khoan dung về quyền sở hữu trí tuệ, đã nói đến việc Trung Quốc sao chép các sản phẩm phần mềm bằng phát biểu nổi tiếng sau đây: “Chừng nào mà họ có ý định ăn cắp phần mềm, chúng tôi muốn họ ăn cắp phần mềm của chúng tôi. Rồi họ sẽ bị ghiền, và sau đó chúng tôi sẽ tìm cách thâu tiền ở một thời điểm nào đó trong thập kỷ tới”.
 NHỮNG TÊN CƯỚP GỘC
Có lẽ điều quan trọng nhất cần phải nhận thấy về nền kinh tế hàng nhái của Trung Quốc là, chính bản thân nền kinh tế này là một bản sao [của một mô hình đi trước]. Khi Hoa Kỳ mới bắt đầu vươn tới địa vị giàu có và quyền lực trong lịch sử, nước này cũng là một quốc gia chuyên vi phạm tác quyền (a pirate nation) giống hệt như Trung Quốc ngày nay. Vào các thế kỷ 18 và 19, Vương quốc Anh là mục tiêu hàng đầu của đạo tặc Mỹ, tức những gián điệp kinh tế tập trung nỗ lực vào công nghiệp hàng dệt nước Anh. Các doanh nhân Mỹ tìm cách sao chép các thiết kế bí mật của Anh để chế tạo khung cửi và xây dựng nhà máy, và chính phủ Hoa Kỳ đứng ở thế sẵn sàng để giúp đỡ họ.
Cũng như tại Trung Quốc hiện nay, phát minh qua việc bắt chước (imitative innovation) là chính sách nhà nước (official policy): luật pháp ban đầu của Mỹ cấm các nhà phát minh nước ngoài lấy bằng sáng chế tại Hoa Kỳ về những phát minh mà họ đã được cấp bằng tại những nơi khác, và những rào cản đáng kể vẫn còn tồn tại cho đến những năm sau cùng của thế kỷ 19. Luật bản quyền Hoa Kỳ lúc bấy giờ cũng tương tự như luật Trung Quốc hiện nay, công khai từ chối bất cứ sự bảo vệ nào đối với tác giả nước ngoài. Mãi cho đến năm 1891, lệnh cấm này mới được bãi bỏ, và thậm chí lúc bấy giờ, các tác giả nước ngoài vẫn còn bị buộc phải in sách của họ tại Hoa Kỳ như một điều kiện để được bảo vệ bản quyền. Mãi cho đến thập niên 1980, đòi hỏi này mới hoàn toàn biến mất khỏi luật pháp Mỹ. Người thụ hưởng nổi tiếng nhất của những luật bản quyền này là Benjamin Franklin – ông tái xuất bản tác phẩm của các nhà văn Anh mà không hề xin phép họ hoặc trả tiền tác quyền cho họ. Người Anh đã khiển trách người Mỹ thậm tệ về đường lối sao chép này; Charles Dickens phản ánh sự bức xúc của những nhà văn Anh nổi tiếng khác khi ông than thở về “cái công lý tuyệt vời không hề cho tôi hưởng lấy một đồng xu do việc người Mỹ bán một lượng sách khổng lồ gồm tất cả mọi tác phẩm của tôi”.
Tuy vậy, trường hợp của Dickens cũng chứng minh sự vi phạm tác quyền đôi khi cũng có lợi cho tác giả như thế nào. Việc người Mỹ sao chép rộng rãi các tác phẩm của ông khiến nhiều người biết đến tên ông, biến Dickens thành một siêu sao văn học ở Hoa Kỳ. Vào thời điểm 1867 – 68, Dickens thực hiện một vòng diễn thuyết hoành tráng tại nước này, thu vào hơn 19.000 bảng Anh, hay tương đương với 1,75 triệu Mỹ kim ngày nay. Khi Dickens qua đời, chỉ hai năm sau, hơn 20% gia tài của ông là do chuyến du thuyết tại Mỹ mang lại.
Những điểm tương đồng này giữa quá khứ của Hoa Kỳ và hiện tại của Trung Quốc đặt sự hoang tưởng (paranoia) hiện nay của Washington về việc Bắc Kinh vi phạm tác quyền vào một cái nhìn toàn cảnh. Việc sao chép đã cho phép kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19 như thế nào, thì ngày nay nó cũng cho phép Trung Quốc tăng trưởng như thế ấy. Và người Anh đã cường điệu mối đe dọa kinh tế do việc người Mỹ sao chép sản phẩm của họ lúc bấy giờ như thế nào, thì ngày nay mối đe doạ của Trung Quốc cũng bị thổi phồng như thế ấy.
Nói vậy không có nghĩa là ta phải đặt tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ ở mức thấp nhất. Thật ra, quyền sở hữu trí tuệ là rất thiết yếu trong các lãnh vực như ngành dược, nơi mà chi phí cho việc phát triển các loại thuốc là đặc biệt tốn kém. Nhưng việc tăng cường tác quyền không luôn luôn dẫn đến kết quả tốt đẹp hơn. Quyền sở hữu trí tuệ có thể ngăn cản cũng như khuyến khích sáng kiến; chúng kiềm chế sự cạnh tranh ngay cả khi chúng khích lệ óc sáng tạo. Quan trọng hơn hết, vì mỗi sáng kiến đều dựa vào những điều đã có từ trước, việc bảo vệ tác quyền quá bao trùm sẽ giới hạn các nguồn cảm hứng có giá trị. Muốn làm một cái bẫy chuột tốt hơn, người ta cần được tự do dựa vào những cái bẫy chuột đã có từ trước. Giống hệt như Apple đã vay mượn từ Xerox ý tưởng kết hợp con chuột máy vi tính với một màn hình có các biểu tượng (chứ không chỉ dùng chữ viết trên màn hình) – mà kết quả là chiếc máy vi tính có màn hình biểu tượng (desktop computer) ngày nay – hàng triệu nhà phát minh khác cũng dựa vào tác phẩm của người khác, đồng thời cải tiến chúng.
Trung Quốc thông qua các luật lệ hiện đại đầu tiên của mình về bằng sáng chế và thương hiệu vào thập niên 1980 và luật bản quyền đầu tiên năm 1990. Luật sở hữu trí tuệ vẫn còn là một hiện tượng tương đối mới mẻ trong một xã hội tập trung cao độ vào nỗ lực bành trướng tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định xã hội. Người ta không thể trông mong thái độ và thói quen của người Trung Quốc đối với việc sao chép sản phẩm nước ngoài có thể thay đổi nhanh chóng. Khi kinh tế Trung Quốc tiến xa hơn nữa, có lẽ cán cân lợi ích sẽ thay đổi, và nước này có thể sẽ theo đuổi một đường lối ít tùy tiện hơn. Hiện nay, biết đặt nạn sao chép tại Trung Quốc vào một viễn kiến và biết nhận ra những ưu điểm cũng như những tai hại của nó là một điều rất quan trọng. Trước hết, Hoa Kỳ nên xét đến lịch sử của chính mình, lịch sử của một quốc gia cũng từng vi phạm tác quyền – và nên giảm bớt căng thẳng.
____________
Kal Raustilia là Giám đốc Trung tâm Burkle về Bang giao Quốc tế tại Đại học California, Los Angeles, (UCLA) và là Giáo sư Trường Luật của UCLA. Christopher Sprigman là Giáo sư Nghiên cứu tại Trường Luật của Đại học Virginia. Cả hai là tác giả cuốn The Knockoff Economy: How Imitation Sparks Innovation (Nền Kinh tế hàng nhái: Việc bắt chước đã châm ngòi cho sáng kiến như thế nào).
Nguồn: Kal Raustilia  và Christopher Sprigman, “Fake It Till You Make It The Good News About China’s Knockoff Economy”,Foreign Affairs tháng Bảy /Tám 2013

Mỗi chuyện nhỏ,một bài học.(Lê Duy Đoàn)

Mỗi chuyện nhỏ,một bài học.

Trong đời chúng ta, có những chuyện nhỏ nhưng bài học rút ra từ đó đôi khi ảnh hưởng nhiều đến nhân cách chúng ta, nhất là những chuyện đó do những người thân của chúng ta đã làm hay đã nói với chúng ta.
1.                 Chơi như rứa là ác:
Lúc còn bé, tôi là đứa bé nhác học ham chơi. Người ta hay nói là cần cù bù thông minh còn tôi thì ngược lại, chỉ có chút ít thông minh để bù vô chỗ nhác học. Đôi khi tôi đi qua nhà người bạn cùng lớp cạnh nhà chơi, về nhà bị ba tôi la “sao không lo học bài ngày mai”, tôi trả lời” dạ con học rồi”. Ba tôi không tin hỏi là “học khi mô mà ba không thấy” tôi đem sách vở ra cho ba tôi kiểm tra bài thì tôi đọc vanh vách bài ngày mai. Ba tôi ngạc nhiên “thằng ni học khi mô mà mình không thấy hắn học chi cả”. Ba tôi đâu có biết, ngồi chơi nghe người bạn học bài lớn tiếng, tôi nghe qua vài lần là thuộc ngay, khỏi mất công ngồi học.
Nói cái chuyện ham chơi của tôi thì dài dòng lắm. Con nít trai gái trong xóm chơi trò chi thì tôi cũng chơi với chúng trò ấy. Chơi sa đà. Một khu vườn rộng sau nhà ông Tư nhiều cây cối im mát là nơi tôi sử dụng  không biết cơ man nào là vũ khí tự chế bằng gỗ, tầm vông: kiếm, đao, truờng côn, côn nhị khúc, cung tên, phi tiêu, ná thun, … những cây mít cây nhãn, những bụi chuối sứ là những đối thủ cứ đứng yên cho tôi tha hồ quần thảo như một võ sĩ thứ thiệt. Đôi khi tôi bị sưng mắt ,sưng mũi vì vũ khí trở quẻ gỏ vào đầu mình. Những khoảng sân đất rộng rãi của nhà bác Phượng, mệ Ký, sân chùa là nơi chúng tôi chơi bi,căn cù, ù mọi, nhảy dây, bắt tường, đánh xu, đánh đáo,tạt lon, chơi con quay. Dọc đường quốc lộ có nhiều khu vườn rộng với những hàng chè tàu là nơi chúng tôi chơi trò trốn tìm vào buổi tối. Lạ một điều là tôi chun vô trốn chỗ nào cũng có một hai đứa con gái chun vô theo. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ hương tóc của mấy cô nàng trốn chung một chỗ thời nhỏ dại. Bây giờ kể lại chuyện xưa, mấy mệ ấy nói “dị òm, hồi đó người ta ngây thơ, răng mà “ấy” ranh mương rứa hè?!” Chun vô theo mà nói người ta ranh mương, lạ thật. Có khi cả bọn con trai rủ nhau leo lên thành hái keo, thả diều,đánh giặc giả ném đất vào nhau, đi hái trái phượng dọc đường gần Phú văn lâu, hái đào nhà dì Hai, bẻ dừa nhà bác Giáp hay bẻ bắp, đào khoai dưới biền.
Một hôm tôi lấy dao gọt một cái lỏi trục chỉ bằng gỗ , cắm vô lổ trục chỉ một cây đủa tre rồi trau chuốt cho trục chỉ thành một cái bông vụ( con quay). Tôi kiếm một cái que ngắn, cột chắc vào đầu que một sợi dây dù. Làm xong tôi ra sân quấn dây vào con quay rồi ném và giật mạnh tạo lực quán tính để con quay quay đều. Chốc chốc, tôi lại dùng roi dây quất vào con quay vun vút để con quay không dừng lại mà cứ quay hoài. Tiếng quất roi dây nghe vút vút, tiếng dây đập xuống đất nghe chát chát.
Bà nội tôi nghe tiếng roi dây quất con quay, vội chạy ra sân, hốt hoảng nói với tôi: “ Cháu vô đây, vô đây” Tôi thất kinh tường có chuyện chi nghiêm trọng xảy ra. “ Cháu dẹp đi, đừng chơi trò đó nữa cháu”  “Trò chơi ni vui, răng cháu không được chơi?” “ Chơi như rứa là ác lắm!” “Chơi con quay mà ác? Chi lạ rứa Mệ?”
“ Ác lắm cháu ạ, người ta đã bỏ chạy mà mình còn rượt theo mà đánh trí mạng, tội nghiệp lắm”. Mệ tôi không nhìn thấy đó là một cái con quay vô tri vô giác mà mệ nhìn ra một con người khốn khổ nào đó đã trốn chạy mà cứ bị rượt theo đánh đập tàn nhẫn !
2.     Ngày mai tôi ăn chi.
O Khém, ở ngoài cửa Chánh Tây, thường đi coi bói dạo. Nhiều người tin ngồi đặt quẻ cho O coi vận hạn. Ba tôi luôn nói với chúng tôi “ Bói ra ma ,quét nhà ra rác” để chỉ ra chuyện bói toán không đáng tin.
Một buổi xế trưa, O Khém ghé nhà gặp Ba tôi O mời “Anh coi một quẻ mở hàng, sáng ni ế quá”. “ Được, O coi cho tui một quẻ, nếu O nói đúng thì tui coi tiếp.” O Khém mừng. Ba tôi đặt tiến quẻ xong hỏi O “ O nói cho tui biết, ngày qua tui ăn chi, sáng ni tui ăn chi và ngày mai tui ăn chi” “ Anh giởn chi ác rứa? Nói lác lác. Anh ăn chi mần răng tui biết!?” “ Sáng qua là quá khứ, sáng ni là hiện tại, sáng mai là tương lai. Gần như rứa mà O không đoán được thì làm răng tui tin được những chuyện xa hơn?”  Nói thí nói vậy nhưng Ba tôi vẫn biếu O Khém tiền đặt quẻ.
 O nói” Cái anh ni hiện ngụy nờ”.
3.     Bị bắt vì xài tiền giả:
Lúc sinh tiền, ba tôi lo chuyện cúng kiếng trong họ hàng và gia đình rất đàng hoàng. Ông luôn chống lại thói mê tín dị đoan. Lần nào cúng ở nhà tôi, O tôi cũng thường mang vào một bộ đồ giấy vàng mã. Cái mũ, cái dù, cái rương, mấy bộ áo dài khăn đóng hay áo cổ kiềng, đôi giày hạ kèm theo mấy xấp giấy tiền, giấy vàng, giấy bạc ( miếng giấy bổi hình vuông có quệt một chút vàng, chút bạc ở giữa), đôi khi có vòng, có xuyến nữa. Như thế gọi là một bộ đồ cúng để cho người đã khuất có đủ đồ dùng khỏi thiếu thốn, lạnh lẽo. Tất cả đồ hàng mã đó đều làm bằng nan tre, phất bồi bằng giấy màu xanh đỏ kèm theo những hoa văn họa tiết chạm đục trên giấy ánh kim.
Một hôm, O tôi mang bộ đồ vàng mã vào cúng ông nội, ba tôi dương cây dù giấy lên, đẩy mạnh một cái như dương cây dù thường dùng. Nghe soạt một cái, những nan tre  bên trong xé toạt tấm giấy màu đen bao bên ngoài chỏng gọng . Cây dù hàng mã biến dạng dúm dó. Thấy vậy, O tôi bật khóc ngon lành và vùng vằng bỏ về không tham dự lễ kỵ nữa. Ba tôi phải đến nhà xin lỗi xin phải hết hơi O tôi mới nguôi giận.
Sợ mất lòng chị nên ba tôi xin lỗi nhưng khi ngồi riêng với chúng tôi ba tôi nói: “Áo quần may đo, đôi khi còn mặc không vừa người. Bây giờ còn ai đi giày hạ nữa? Ai đội mũ phớt? Ra mốt mới là mốt cũ xếp xó hay vất bỏ. Bây giờ người ta dùng vali Samsonite chứ ai dùng cái tráp, cái rương vuông vức cổ lổ sỉ như thế. Cái dù mới dương lên đã rách nát làm sao mà dùng. Cỏi dương trần thế nào thì cỏi âm củng như vậy . Bây giờ ai dùng tiền xu từ thời “ Minh mạng thông bảo”? Tiền giấy đô la cúng cả vạn  đô? Ở dương gian mình làm ra một trăm đô la là chảy máu mắt, có mô cả vạn đô để cúng ông bà? Nhãm nhí rứa mà người ta vẫn làm, vẫn mê tín? Không khéo, gửi tiền ni đến cho ông bà cha mẹ, mới cầm đi xài thì họ đã bị cảnh sát nơi đó còng tay vì tội xài tiền giả?”.
4.      Bia rượu:
Buổi chiều khi xong công việc, ba tôi thường ra ngồi trên cái sập kê trước tủ hàng vải  cái quán tạp hóa của mẹ tôi. Ông tìm một chai bia cao con cọp có hai chuổi hoa houblon hai bên, lúc đó người ta gọi là “ chai bia trái thơm”, tin rằng chai bia đó là chai bia ngon đặc biệt ( mỗi két chỉ có một chai). Khi nào ông cũng kêu tôi cùng ngồi cưa đôi chai bia với ông. Ly bia thêm một chút đường dậy bọt trở nên đậm đà hơn. Ba tôi thường nói: “ Chỉ nên uống bia chứ đừng nên uống rượu. Bia uống vừa phải thì tốt chứ uống để say mèm thì đó là thuốc độc. Không ai nói là “ông say rượu” mà đứa con nít cũng thường hay gọi ông già say rượu chân nam đá chân xiêu là” thằng say rượu”. Uống bia rượu tiền của người ta đải mình mà uống cho cố đến nổi cho chó ăn chè là tham ăn tham uống đáng khinh, uống bia rượu tiền của mình mà như vậy đã phung phí mà còn hại sứ khỏe.”
5.     Thi ân bất cầu báo:
Em gái kế út của tôi đi sinh, chị nó ngồi chờ bên ngoài. Một bà mẹ có con sinh phòng bên cạnh bắt chuyện. Khi biết em tôi là con Bà Dung, là dâu ở làng An ninh Hạ, bà ấy cầm tay, chảy nước mắt và nói với em gái tôi: “ Mạ con là người nhân hậu vô cùng. Gia đình O nợ ơn nợ nghĩa của mạ con không biết mần răng mà trả cho hết. Hồi trước, O túng quẩn, nhà lại có việc bi đát phải lấy giấy tờ nhà đi vay nóng lãi cao. Tiền mô mà trả nổi, lãi mẹ đẻ lãi con, người ta đến xiết nhà, quăng đồ đạt, đuổi cả nhà  O ra ngoài đường. Mạ con thấy tình cảnh của O quá thảm mới bỏ tiền ra trả nợ cho O để lấy lại giấy tờ nhà và nói là khi mô có tiền trả lại mạ con cũng được. Số tiền lớn lắm chứ có phải ít ỏi chi mô. Mạ con còn cho tiền O để sắm một gánh đậu hù và vốn xoay để có sinh kế nuôi gia đình”.
Hỏi Mẹ tôi O đó là ai, mẹ tôi lãng qua chuyện khác và trả lời: “ Chuyện xưa lắm rồi ,Mạ không nhớ”.  Mẹ tôi có trí nhớ tuyệt vời tôi không sánh kịp làm sao mẹ tôi không nhớ chuyện đó được?
6.     Đốt sổ nợ:
Năm 1968, nhà chúng tôi ở phường Phú Thạnh là vùng giao tranh ác liệt.Dọc con đường Thống nhất, hầu hết nhà cửa bị bom đạn phá sập. May mắn là nhà tôi và cái quán tạp hóa của mẹ tôi chỉ bị nứt tường và vết mảnh bom đạn trên mái tôn và vách nhà. Mẹ tôi đã qua cơn bạo bệnh và cả nhà an lành trở về nhà.
Trong việc mua bán, mẹ tôi làm hai cuốn sổ.
Một cuốn sổ ghi nợ, gồm những người mua chịu, mua thiếu tới tháng trả. Nhiều người cứ nợ hoài vì túng quẩn nhưng mẹ tôi vẫn bán tới cho họ. Có những người vay tiền với lãi thấp cũng ghi vô sổ đó.
Một cuốn sổ ghi tiền góp ngày. Mỗi ngày người ta góp một số tiền , đến cuối kỳ góp sáu tháng hay một năm, họ nhận lại tiền góp cọng với tiền lãi. Một kiểu bỏ ống heo mà có lãi.
Thấy làng xóm tang hoang, mất nhà mất cửa, đời sống bà con xóm giềng bấp bênh nhà mình còn như ri là đại phước, mẹ tôi đem sổ nợ ra châm lửa đốt, chỉ giữ lại sổ góp của bà con mà thôi.
7.     Chẳng thà cầm tiềncho:
 Ba tôi dặn dò chúng tôi : “ Các con cố gắng đừng mượn nợ và tránh cho mươn nợ. Người ta mượn tiền,không trả được hay không muốn trả thì họ sẽ tránh mặt mình. Đòi nợ thì họ giận họ tránh, không đòi thì mình ấm ức. Tốt nhất, khi người ta túng hỏi vay nợ mình, mình dư dả thì đem tiền cho người ta, đừng cho mượn. Bạn bè mượn nợ, thế nào cũng mất bạn.”
Tôi nhiều lần nhẹ dạ thương người mà cho người ta mượn tiền. Chẳng ai trả lại. Mất bạn luôn.
Có một người bạn chí thân, năm 1974 đến nhà than với tôi là người đẹp của anh ấy lỡ có bầu rồi, bây giờ phải tổ chức cưới gấp. Lúc đó anh ấy nghèo nên năn nỉ tôi cho mượn 5 chỉ vàng để sắm sanh lễ vật. Vợ tôi là người tốt bụng, nghe tôi kể hoàn cảnh của bạn thì vui vẻ mở tủ lấy ra cho mượn ngay. Lúc vợ khai hoa nở nhụy, anh ấy lại đến mượn 2000 đồng để lo chi phí sinh nở (thời điểm đó 2000 đồng khá lớn). Chúng tôi cho mượn tiền và cho mượn luôn chiếc xe Honda dame để đi lại.
Bây giờ, anh ấy giàu có. Có nhà cửa khang trang, có vườn rộng hơn ngàn mét vuông ở mặt tiền con đường đẹp thành phố, có xe hơi, chơi cây cảnh đầy vườn,mỗi cây vài chục triệu đồng. Từ khi mượn tiền lúc dầu sôi lửa bỏng cho đến bây giờ gần 40 năm, anh ấy chẳng bao giờ đề cập đến 5 chỉ vàng đầy ân tình như thế! Tôi chẳng hề đòi nợ nhưng tự hỏi sao người ta không sợ chuyện “kéo cày trả nợ” nhỉ?
8.     Ác quá:
Anh Trần là bạn tâm giao của tôi. Chúng tôi cùng học một khóa sư phạm và có sự đồng điệu trong nhiều lảnh vực đời sống nên giao tình thân thiết. Anh ấy qua định cư và đã đậu Tiến sĩ ở Mỹ.
Ngày cuối trong một lần Trần về thăm quê, chúng tôi đi chơi với nhau. Tôi đèo anh ấy đến thăm các anh Trần Tuấn Mẫn và anh Nguyễn văn Nhật ở văn phòng báo Văn Hóa Phật Giáo rồi đi đến tòa soạn báo Giác Ngộ. Xế trưa, Trần rủ tôi ra một quán ăn ở bờ kè sông Sài gòn, gần đường Trần Não, quận 2.
Ngồi dưới tàn cây bàng rợp bóng bên bờ sông, dù buổi trưa oi nồng nhưng gần sông nước nên không khí  mát mẻ dễ chịu. Đưa bản thực đơn cho tôi, Trần bảo tôi gọi món ăn. Toi thấy dọc đường Phạm ngũ Lão cạnh nhà tôi có nhiều quán lẩu cá kèo đông khách. Tôi chưa hề ăn nhưng bụng nghĩ thầm khách đông như thế thì hẳn món ăn ngon và hấp dẩn.Tôi gọi cái lẩu cá kèo vì nghĩ rằng món lạ chắc bạn sẽ thích.
Lát sau, người phục vu bàn đem ra một cái lò nấu cồn khô và một cái chảo nhôm có nước nêm sẵn gia vị. Một dĩa bún, dĩa rau mùi và măng chua. Trên tay anh ta một cái túi ni long đựng khoảng mươi con cá kèo còn sống chen nhau vùng vẫy.
Trần ngạc nhiên: “ Cái gì đây, ăn cách răng đây?” “ Dạ, cứ như vậy thả vô nước sôi”. Cầm bịch cá trên tay, Trần tần ngần: “ Không phải làm sẵn à?” “ Dạ ăn thế này mới ngọt nước!”. Trần quyết định nhanh : “ Bây giờ tui không ăn món ni, tui gọi món khác được không? Hỏi ông chủ bịch cá ni giá bao nhiêu tui trả” Chúng tôi gọi một cái lẩu cá thát lát, hổ qua thay cho cái lẩu cá kèo.
Khi người phục vụ đi vào trong , Trần thừ người nhìn ra một chỗ xa xăm nào đó và buộc miệng: “ Ác quá”.
Tôi cũng ngớ người ra vì đã từng ăn lẩu cá kèo lần nào đâu mà biết.
 “ Dạ chín chục ngàn” Biết là bịch cá kèo mươi con mà giá đó là quá đắt, nhưng Trần vẫn vui vẻ móc tiền ra trả. Xong, Trần mở túi ni lông thả ngay mấy con cá xuống sông. Mấy con cá chìm xuống  rồi quẩy đuôi ngoi lên mặt nước vùng vẫy như nói lời cám ơn. Trần mĩm cười rạng rỡ.
Lê Duy Đoàn
Sài gòn, ngày 8/7/2013

Post Navigation