Dưới Mắt QH1964

Câu Chuyện Văn Chương của Học Trò Huế

Chục Mười Tám (Lê Duy-Đoàn)

Chục mười tám.

Lê Duy Đoàn

Năm 1992, tôi quen biết ông Chung Yoo Sop, một người Đại Hàn rất nhân hậu ,qua Việt nam tìm kiếm và tìm cách giúp đở những đứa con lai sinh ra từ những mối quan hệ cha Hàn , mẹ Việt. Những người cha Hàn quốc này có thể là những người lính trong các sư đoàn bộ binh Bạch mã, Mãnh hổ hay lữ đoàn thủy quân lục chiến Rồng xanh của Đại Hàn, lực lượng quân đội nước ngoài tham chiến đông đảo chỉ sau Mỹ trong chiến tranh Việt nam. Một số người cha Hàn quốc này làm công nhân cho hảng RMK của Mỹ xây dựng đường sá quốc lộ hay tỉnh lộ theo kỷ thuật làm nền và tráng nhựa hiện đại nhất của Mỹ lúc đó. Một số qua Việt nam mở các cửa hàng bán đồ gia dụng, thực phẩm, gia vị, thức ăn của người Hàn vì người Hàn quốc rất bảo thủ trong vấn đề ẩm thực. Năm 1973, khi hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút quân về nước, người Đại Hàn cũng rút theo. Những người phụ nữ Việt lấy chồng Hàn( hầu hết không chính thức) ở lại Việt nam nuôi những đứa con lai. Bây giờ ông Chung qua Việt nam tìm những người vợ có chồng Đại Hàn và con lai của họ để dạy tiếng Anh, tiếng Hàn và dạy nghề . Có những hội đoàn Tin lành tài trợ cho việc này. Những người Hàn có lương tâm thấy những dấu vết xấu xa và những ám ảnh ghê rợn mà dân tộc họ để lại trên đất nước Việt nam sau khi họ rút về nước là những vết nhơ và những chuyện đau buồn nên họ tìm cách hàn gắn và chuộc lổi. Không biết ông Chung nói có thật lòng hay không là khi qua Việt nam có hai lần ông khóc. Lần thứ nhất là năm 1967, ông khóc vì tủi cho đất nước của ông. Sao một đất nước cũng chia cắt như đất nước của ông mà Việt nam phát triển vượt trội như thế ?! Lần thứ hai ông khóc là vào năm 1990, ông buồn vì thương cho người Việt và đất nước Việt nam sao lại thụt lùi, lạc hậu và người dân nghèo khổ như vậy.

Theo lời giới thiệu của ông Chung ,tôi làm đại diện giao dịch cho ông Lee Duk Kon, Tổng giám đốc Công ty Seoul Industrial Company, Ltd của Đại Hàn có văn phòng ở thủ đô Seoul. Ông Lee trắng trẻo, cao to, vai rộng, khuôn mặt quắc thước, phong thái trí thức. Giọng ông nhẹ, nhã nhặn, luôn nói  những lời mềm mỏng tôn trong khác hẳn với đa số người Hàn quốc qua Việt nam lúc đó.

Ông Lee qua Việt nam  tìm nguồn cung cấp và xuất khẩu chuối già lùn, già hương sang thị trường Đại Hàn. Lúc đó, chuối hiện đang nhập khẩu vào thị trường Đại Hàn là giống chuối có vỏ màu vàng tươi (chuối bom) hầu hết đều từ các nông trường trồng chuối ở các nước Nam Mỹ như Perou, Ecuador… Không biết lấy thông tin từ đâu mà ông Lee biết hương vị chuối Việt nam hơn hẳn chuối Nam Mỹ.  Ở Seoul, một trái chuối Nam Mỹ có giá 1 đô la, chuối già Việt nam một trái phải trên 1 đô la trong khi mua ở Việt nam  một nải chuối chưa đầy 1 đô la. Thế là ông qua Việt nam để xuất khẩu chuối.

Những năm đó, Liên Xô và khối cọng sản Đông Âu đã sụp đổ, Việt nam mở cửa nền kinh tế.  Các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt nam thăm dò, tìm kiếm cơ hội làm ăn, mua bán. Người Đại Hàn và người Đài Loan nhanh chân hơn hết.

Chúng tôi chọn công ty Fataco, một công ty dịch vụ và xuất nhập khẩu của tỉnh Bến tre làm đối tác. Bến tre cũng giống hầu hết các tỉnh ở đồng bằng Nam bộ, có những vùng đất phù sa màu mỡ ven sông Tiền, sông Hậu, những cồn bãi hoa màu tươi tốt. Đây là vùng nguyên liệu rất phong phú.

Ông Lee chỉ là một người kinh doanh không có kinh nghiệm. Ông không lường trước mọi điều liên quan đến việc xuất khẩu chuối trong điều kiện quá nhiều rủi ro khi làm ăn với Việt nam. Ngay chuyến đầu tiên xuất 8 containers chuối sang Đại Hàn, tất cả đều hư thối phải thuê đổ bỏ bên ngoài phao số không ở cảng Busan ( họ gọi chuối hư thối đó là tông(1) banana). Sau này tôi mới biết, hảng tàu đã không thông tin đầy đủ  về lộ trình và thời gian vận chuyển. Chuyến hàng thay vì đi từ Sài gòn qua tới Đại Hàn mất từ 7 đến 10 ngày thì lại trung chuyển qua Singapore nên mất cả tháng. Lại nữa, những hảng tàu lúc đó hoạt động còn hạn chế vì lịnh cấm vận của Mỹ chưa được giở bỏ, hàng xuất khẩu ít nên tàu chất hàng ở nhiều địa phương khác nhau ,phải bốc dở nhiều nơi nên chuyến tàu trễ nãi. Lúc đó trình độ dân Việt nam làm hàng xuất khẩu còn kém, container lạnh không bảo đảm nhiệt độ ổn định,thời gian vận chuyển trên biển lại quá lâu. Hàng đóng trong thùng carton thoáng, có bao nilon đục lổ nhưng chất hàng không thoáng nên chuối chín sớm.Một trái chín kéo lây chuối trong cả thùng carton chín theo và  cứ như thế kéo dây chuyền cả container đều chín. Tất cả những yếu tố đó biến những container chuối già hương hàng tuyển, độ chín tới 80% thành một đống “ tông banana” thúi hoắc. Ông Lee mất trắng cả chuyến hàng và bỏ cuộc.

Nhiều công ty Đại Hàn vẫn tiếp tục qua Việt Nam tìm kiếm cơ hội xuất khẩu chuối.

Những người này quen và biết hoạt động của ông Chung, giúp tiền bạc để mua cho các cháu con lai xe đạp và tài trợ gia đình các em khó khăn. Họ cũng nhờ ông Chung tìm những vùng đất màu mỡ ở miền Tây để đầu tư trồng chuối và thu hái xuất khẩu theo dự tính hình thành một dây chuyền khép kín giống như mô hình xuất khẩu chuối của các nước nam Mỹ.

Ông Chung nhờ tôi  đi một chuyến về các tỉnh miền Tây để tìm hiểu những thổ sản nông nghiệp có thể xuất khẩu được, đồng thời kiếm những vùng đất chuyên canh cây chuối ở các tỉnh miền tây.

*            *

*

Lúc đó vào dịp hè, các con tôi được nghỉ học. Tôi rủ vợ tôi đi miền tây một chuyến cho biết. Hai chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe gắn máy Dream khởi hành từ sớm tinh mơ. Đường quốc lộ còn khá tốt, xe cộ lưu thông thưa thớt, nạn cướp bóc không có rộ lên như sau này nên chuyến đi an toàn và rất thú vị.

Chúng tôi đi một lèo từ Sài gòn đến gần ngã ba Trung lương, ghé vào nhà người bà con làm việc ở Công ty Địa chất 88 lúc trời vừa hửng sáng. Đường đi dày đặc sương mù. Khi dừng xe vào nhà, chúng tôi nhìn nhau và cùng cười rộ. Mặt người nào cũng đầy nhọ vằn vện như quệt nhọ nồi. Thì ra, những vẩn bụi li ti trôi nổi cùng sương sớm,nên khi chúng tôi đi trong màn sương, chúng tôi đã hứng trọn bụi bặm trong không khí mà không hề hay biết. Ngó qua ngó lại hai khuôn mặt như ma trơi.

Trong bốn ngày chúng tôi đi xe gắn máy qua các tỉnh Tiền giang, Bến tre, Vĩnh long, Sóc Trăng, Cần thơ, An giang và Đồng tháp. Ba đêm ngủ lại ở Vĩnh long, Cần thơ và Sa đec thật ấn tương và vô cùng thú vị. Nói là đi tìm vùng nguyên liệu xuất khẩu nhưng chúng tôi kết hợp công việc nghiên cứu thực địa với việc tranh thủ đi chơi cho biết những địa danh nổi tiếng ở những tỉnh mình đi qua vì đây là một dịp hiếm hoi trong đời.

Ở đây tôi chỉ nói đến chuyện đi chơi, không kể chuyện nghiên cứu .

Bây giờ người ta vẫn quen miệng nói Nam kỳ lục tỉnh nghĩa là toàn Nam bộ chỉ có 6 tỉnh. Đó là tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn độc lập, tức là khoảng thời gian từ năm 1832 (cải cách hành chính của vua Minh Mạng) cho tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây) . Sau thời điểm đó, Pháp xóa lục tỉnh và chia Nam bộ ra thành nhiều tỉnh rồi. Tên gọi lục tỉnh không còn đúng và không còn ý nghĩa.  Lúc chúng tôi đi về miền tây thì miền tây Nam bộ đã chia ra thành 12 tỉnh.(mời đọc chú thích bên dưới bài viết(2).

Nhà  của bà O ruột của vợ tôi ở gần ngã ba Trung Lương nằm trong khu ở tập thể của công ty địa chất 88 . Chúng tôi gửi ba lô, túi xách để đi chơi cho gọn nhẹ. Hai vợ chồng O dượng cùng tốt nghiệp kỷ sư ngành dầu khí ở Tiệp khắc nhưng lúc về Việt nam ngành dầu khí đang phôi thai nên phải chuyển qua ngành thăm dò địa chất. Công ty này thăm dò địa chất thì ít mà khai thác nước ngầm là chính vì những vùng xa thành phố không có nước sạch, mà nước sông, kênh rạch ở các tỉnh nam bộ hầu hết đều bị chua phèn,đến mùa nắng nóng đôi khi nhiễm mặn. Mỗi nhà đều để nhiều lu vại để đựng nước lắng phèn. Khoan nước ngầm là nghề tay trái nhưng lại tăng thu nhập rất nhiều cho cán bộ nhân viên công ty.

Cơ ngơi của công ty là 3 dãy nhà liên kế xếp thành hình chữ U, nhà trệt cột gỗ,vách ván mái lá cửa nẻo đơn sơ.

Trong khuôn viên rộng rãi hơn  hecta của công ty có hai nơi đặc biệt: vòi nước giếng khoan và cầu tỏm .

Một vòi nước giếng khoan nước ngầm với tầng nước ngầm sâu đến 50 mét chảy liên tục dòng nước ngọt trong vắt và ấm khoảng 37-38 độ C.Dân quanh vùng mang thùng đến lấy nước thoải mái. Ngồi tưới tắm dưới vòi nước ấm hàng giờ vẫn không thấy ngán. Thật là một trải nghiệm thú vị.

Một cái ao cá tra rộng khoảng 150 mét vuông hứng nước thừa chảy từ vòi nước giếng khoan chảy vào liên tục. Chúng tôi nói đùa là cá nhiều hơn nước. Những con cá to dài mình đen nháy chen vây với nhau lượn lờ chờ đợi. Trên ao cá là một cái cầu tiêu đôi dã chiến được chống đở bởi bốn cột gỗ ọp ẹp lắc lư trên ao, từ bờ ao đi ra là cái cầu ván lắc lẻo ( chúng tôi gọi đó là cầu tỏm).  Cầu che tạm bợ xung quanh bằng những miếng ván đầu thừa đuôi thẹo hở trên trống dưới và che cao chưa tới bẹn nên đứng ngoài xa người ta vẫn có thể thấy “cầu sĩ” là ai. Thành ra, hai  “cầu sĩ”có thể thấy mặt nhau và rôm rả nói chuyện với nhau thoải mái trong khi làm chuyện “tứ khoái”. Ngồi trong tư thế như vậy người Huế nói là thấy“dị òm” chứ người Nam thì cứ “tự nhiên như người Hà lội”.

Khắp Nam bộ lúc đó dân chúng làm “cầu tỏm” trên ao hồ hay ven sông rạch và cứ thoải mái “gần gũi với môi trường”. Ít nhà có cầu tiêu tự hoại.

Đi tới đâu chúng tôi cũng hỏi những người dân địa phương những danh lam thắng cảnh đặc trưng và những đặc sản ẩm thực của vùng đó .

Dạo quanh thị xã Mỹ tho một vòng qua mấy đường phố mất khoảng mươi phút.  Thị xã nhỏ nhắn, đường phố còn nhỏ hẹp, cây cối hai bên đường phủ che bóng mát, Thị xã nhỏ , người dân hiền hòa thân thiện như thành phố Huế hay thị xã Hội an.

Chúng tôi ra đường Trưng Trắc tìm quán hủ tiếu điểm tâm. Hủ tiếu Mỹ tho thì đã quá nổi tiếng từ lâu rồi.

Hủ tiếu nguyên là món ăn gốc từ người Triều Châu, mang vào Ðàng Trong được người mình Việt hóa. Người Tiều phát âm là “củi tiểu” hay “củi thiểu” và người mình đọc trại ra là “hủ tíu” rồi “hủ tiếu” như ngày nay.

Không ai biết hủ tiếu có mặt ở Việt Nam vào lúc nào, nhưng chắc một điều là nó có mặt sau khi người Hoa được các chúa Nguyễn cho vào định cư ở phía Nam. Ðặc biệt là kể từ khi Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vào lập xứ Ðông Phố, cho người Tàu cư ngụ ở Trấn Biên (Biên Hòa) lập ra xã Thanh Hà, và người Tàu ở Phiên Trấn (Saigon & Gia Ðịnh) lập ra xã Minh Hương.

Hủ tiếu sau khi vào miền Nam được người mình đón nhận, biến cải để hợp với cái mỹ vị, nghệ thuật ăn uống của con người ở đây. Hủ tiếu Tiều có mặt ở Ðàng Trong theo như lịch sử của Saigon thì đã trên 300 năm, không ngừng cải tiến, phục vụ cái sở thích ăn ngon của người địa phương, dần dà hủ tiếu Tiều trở thành hủ tiếu Việt; mà tiếng tăm vang lừng như: Hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Sa Ðéc và nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho.

Ở Mỹ tho còn có một món hủ tiếu với cách chế biến hoàn toàn khác nhưng cũng ngon miệng  không  kém hủ tiếu Mỹ tho là hủ tiếu sa tế , có gốc gác từ người Hoa.

Chúng tôi vào một quán ăn của một người Việt gốc Hoa trên đường Trưng Trắc bên bờ sông Bảo Định, ( người địa phương nói là những tiệm ăn san sát trên đường nàymới đúng là hủ tiếu Mỹ Tho chánh gốc) nơi chúng tôi có thể gọi 2 loại hủ tiếu Mỹ tho và hủ tiếu sa tế để ăn thử cho biết.

Hai loại hủ tiếu Mỹ tho và hủ tiếu sa tế đều dùng cùng một loại sợi bánh khô nhưng khác nhau ở nước dùng: Hủ tiếu Mỹ tho dùng nước lèo, hủ tiếu sa tế dùng nước xốt nên hương vị khác nhau.

Sợi bánh hủ tiếu Mỹ Tho là loại bánh khô, được chế từ gạo thơm địa phương như gạo Nàng Hương, gạo Nanh Chồn hay gạo Nàng Thơm Chợ Ðào (gạo ngon số một). Hiện nay có hai trung tâm sản xuất bánh hủ tiếu khô nổi tiếng (loại hủ tiếu Mỹ Tho): Một ở thị trấn Mỹ Tho và một ở Gò Công, sản xuất hầu hết hủ tiếu khô Mỹ Tho cung cấp cho cả nước.

Sợi hủ tiếu Mỹ Tho do vậy có mùi thơm của gạo, trụng nước sôi thì mềm nhưng không bở, nhai nghe dai dai, nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua. Sau khi trụng, cho vào tô, trộn với ít mỡ hành phi, nhìn sợi hủ tiếu trong bóng, ẩn đục bên trong nhìn rất bắt mắt.

Nước lèo chan vào tô hủ tiếu nấu bằng thịt và xương ống nguyên chất, đặc biệt là có thêm tôm khô, khô mực nướng và củ cải trắng, củ cải đỏnên vị thanh tao vô cùng

Các món phụ gia góp phần làm tô hủ tiếu Mỹ Tho thêm hấp dẫn là giá sống, chanh, ớt, hẹ, nước tương  còn có thêm rau cần.Nhìn tô hủ tiếu Mỹ Tho nấu với thịt heo bầm, có điểm con tôm thẻ, lột xẻ đôi, thêm đồ lòng heo, sườn heo và trứng cút nữa, tô hủ tiếu Mỹ Tho như vậy quả không thấy hơi hám gì của người Tàu nữa cả, mà rặc là hủ tiếu theo phong cách nam bộ Việt Nam.

Còn tô hủ tiếu sa tế lại có vị Tàu đặc trưng. Tôi nghe là việc nấu nước sốt sa tế không hề đơn giản. Đầu tiên hầm nồi nước lèo bằng xương bò cho thật đậm, Tiếp đó, pha sa tế với các loại gia vị như tỏi, hành tím, gừng, sả, đại hồi, tiểu hồi, quế, ớt khô, ớt bột, đậu phộng rang giã nhuyễn, mè rang… xào với dầu mè. Sau đó, cho hỗn hợp đã chế biến vào nước hầm bò và nêm lại gia vị. Ăn hủ tiếu sa tế  ta cảm nhận vị ngọt đậm đà của nước hầm xương, vị thơm thơm cay cay của ngũ vị hương hòa trong vị chua chua của khế, hương thơm của mè, đậu phộng, húng quế… tất cả hoà lẫn tạo thành một mùi vị rất riêng cho món ăn đặc trưng của người Hoa

Quả thật ở Mỹ Tho, có sự khác biệt rõ ràng giữa 2 tô hủ tiếu Việt và hủ tiếu Tàu.

Điểm tâm xong, chúng tôi lên đường thẳng đến thăm chùa Vĩnh Tràng. Chùa là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế – Trí Huệ .Vĩnh Tràng không chỉ là ngôi chùa lớn nhất tỉnh Tiền Giang mà còn là ngôi cổ tự danh tiếng bậc nhất ở miền Nam. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa Vĩnh Tràng tọa lạc ở đường Nguyễn Trung Trực, thuộc xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Chùa vốn là một thảo am do ông Tri huyện Bùi Công Đạt xây cất vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1849, Hòa thượng Thích Huệ Đăng trụ trì chùa đã tổ chức xây dựng thành ngôi đại tự và đặt tên là chùa Vĩnh Tràng. Chùa đã trải qua nhiều lần hư sập, trùng tu mới mang dáng vẻ kiến trúc châu Á pha lẫn châu Âu đẹp đẽ và hoành tráng như ngày nay.

Rời chùa, chúng tôi thẳng đến bến phà Rạch Miễu bắt qua sông Tiền, nối Bến Tre và Mỹ Tho. Đó là bến phà khá hiện đại, do có Đan Mạch tài trợ đóng các phà mới.

Bến phà Rạch Miễu (hay bến phà Tân Thạch) nằm trên quốc lộ 60 nối liền 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, với bờ phía Tiền Giang đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, và bờ phía Bến Tre đặt tại xã Tân Thạch, huyện Châu Thành. Rạch Miễu là một thị tứ ở bờ phía Bến Tre.

Đường thủy đi ngang qua sông Tiền của phà Rạch Miễu dài khoảng 3,2 km, đi vòng qua cồn Phụng và cồn Thới Sơn. Chờ phà hơi lâu. Phà đi qua tới bờ bên kia cũng phải mất đến nửa giờ. Gió trên sông lồng lộng đưa hương đồng gió nội phả vào người mát rượi như thổi đi những phiền muộn đời người.

Chúng tôi dự tính đi những điểm tham quan xa trước, gần sau. Thế là chúng tôi  vội vã lên xe dông tuốt đến tận Ba Tri rồi Bãi Ngao là huyện lỵ ven biển của Bến Tre.

Con đường từ thị xã Bến Tre về Ba Tri dài đến 35 km chỉ là đường đất rộng chưa tráng nhựa, vắng xe cộ đi lại, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe khách cũ kỹ chạy qua tung bụi mù trời. Dọc hai bên đường là cả một rừng dừa xanh tốt, nhà cửa thưa thớt, nghèo nàn.

Thị Trấn Ba Tri là nơi an nghỉ  của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Xã Bảo Thạnh của huyện Ba Tri là quê hương của Phan Thanh Giản (vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ), đồng thời còn là nơi an nghỉ của xử sĩ Võ Trường Toản. Cả ba người đều là danh nhân Nam Bộ.

Sau khi dạo quanh chợ Ba Tri, chúng tôi đến viếng khu lăng mộ nhà thơ yêu  nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), cách thị trấn Ba Tri chừng 1km trên đường về An Đức.

Khu lăng mộ được xây dựng vào năm 1972 có quy mô nhỏ, gọn nhưng trang trọng với nhiều cây cao bóng mát.

Nguyễn đình Chiểu là người gốc Huế từng sống và học hành ở Huế từ 12 đến 19 tuổi.Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định.

Trong truyện Lục Vân Tiên có vài chi tiết giống cuộc đời ông

( Đời thật)…Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi. Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.

Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút… ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, ông mới mở trường dạy học và làm thuốc.

(Lục Vân Tiên)…Sau khi về nhà thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi, ghé thăm Võ Công, người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàngLúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang. Dọc đường về, Vân Tiên đau mắt nặng, rồi bị mù cả hai mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bãi, Vân Tiên được gia đình ông ngư cứu mạng. Sau đó chàng lại bị Võ Công khinh rẻ và bị Võ Thể Loan gạt bỏ vào hang núi Thương Tòng.

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre. Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những người mến mộ và thương tiếc ông.

Trong nhà tưởng niệm , ngoài tượng và bài vị thờ cụ Đồ Chiểu, còn có treo tranh vẽ chân dung của các vị anh hùng dân tộc như Trương Định, Thủ Khoa Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Phan Tòng, Lê Quang Quan… và trích đoạn những tác  phẩm văn học nổi tiếng của cụ Đồ.

Phía sau, bên trái nhà tưởng niệm là phần mộ của cụ Đồ với phu nhân. Gần bên đó là nơi yên nghỉ của  nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (bút hiệu này có nghĩa là bà Nguyệt Anh góa chồng) . Tên thật của bà  là Nguyễn thị Khuê, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Bà là nhà thơ và là chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo Nữ giới chung do bà phụ trách là tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài Gòn[ rất nổi tiếng vào đầu thế kỷ trước.

Tới Bãi Ngao chúng tôi chỉ thấy bờ chứ không thấy bãi nào hết. Sóng biển đục ngầu phù sa vổ bờ, xâm thực bờ thành từng  hàm ếch. Cảnh vật vắng lặng nhuốm màu “thương hải tang điền”. Chỉ có tiếng sóng biển vổ bờ rì rào,rì rào…

Về lại thị xã , chúng tôi ghé vào chợ Bến Tre kiếm trái sầu riêng Cái Mơn về ăn và làm quà biếu O Dượng.

Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành – huyện Chợ Lách – tỉnh Bến Tre. Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông, men theo QL 57 đến Cái Mơn khoảng 21km. Đặc biệt, đặc sản trái cây nổi tiếng nhất là loại sầu riêng cơm vàng, hạt lép có hương thơm ngào ngạt nổi tiếng trong và ngoài nước.( Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong).

Đến bây giờ vẫn chưa có tư liệu chính thức nào ghi chép lại nguồn gốc, xuất xứ của giống sầu riêng đặc biệt này nhưng theo truyền miệng, loại quả lạ này xuất xứ từ Campuchia, do ông Nguyễn Duy Lưu (1857- 1947) một thầy dạy Nho học ở Cái Mơn, rất yêu thích công việc trồng trọt. Vào khoảng năm 1910 ông được mời sang Campuchia để dạy học cho con cái Hoàng gia. Tình cờ ông thưởng thức được loại trái lạ, có mùi vị rất đặc trưng. Khi ăn thì vị ngọt thanh kết hợp với mùi thơm lừng làm những ai lần đầu tiên thưởng thức cũng phải nhớ mãi không quên. Ông Lưu đưa giống cây lạ này về trồng trên mảnh vườn nhà tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành – Chợ Lách) và đặt tên là “sầu riêng sữa bò”. Sầu riêng sữa bò của ông Lưu chỉ cho trái vào mùa hè, vào tháng 5, đến tháng 7 dương lịch. Trái khi chín vẫn xanh ngắt, mỏng vỏ, gai thưa, khi chín múi lớn vàng ươm, có vị ngọt dịu và béo ngậy như sữa, hương thơm thì ngào ngạt. Đặc biệt, là đúng 12 giờ trưa hay nữa đêm, khi trái tự rụng xuống thì mới chịu chín. Vô phúc cho đôi trai gái nào ngồi tình tự dưới gốc cây sầu riêng vào giờ đó?! Tiếng đồn về một giống trái ngon có vị lạ bay xa, đến mùa thu hoạch, nhiều người trong và ngoài tỉnh Bến Tre hiếu kỳ tìm đến vườn ông Lưu để thưởng thức trái lạ và xin giống về trồng.

Người dân Bến Tre lúc đó rất thật thà, họ nói sầu riêng Cái mơn cơm vàng hạt lép là đúng y chang. Chỉ có giá là cao gấp đôi những loại sầu riêng khác.

Trở lại bến phà, chúng tôi gửi xe trên bờ bến thuyền chuyên chở khách qua Cồn Phụng. Cồn Phụng là một trong bốn cù lao trên sông Tiền, lấy tên linh vật ( Long, Lân( cồn Thới sơn), Quy, Phụng).Bến thuyền nằm cạnh bến phà. Sóng vổ mạn thuyền lách bách. Thỉnh thoảng những chiếc tàu lớn đi dọc sông đẩy những đợt sóng lớn làm con thuyền chao nghiêng.

Lên bờ chúng tôi đi quanh một vòng thăm thú những dấu tích còn lại của ông Đạo Dừa.

Ðạo Dừa  do ông Nguyễn Thành Nam sáng lập. Ông xuất thân trong một gia đình khá giả ở huyện Châu Thành, qua du học ở Pháp lấy được bằng kỹ sư hóa học. Sau một thời gian sản xuất xà phòng không thành công, ông bỏ lên núi tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một lần vào giờ ngọ bằng rau và hoa quả và uống nước dừa xiêm. Một năm sau, từ núi, ông về lại Bến Tre, dựng một túp lều ở mỏm cù lao Tân Long vào năm 1952. Sau mấy tháng hoạt động, thấy bất tiện, ông về quê ở ấp I, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, mua một xà lan nhỏ, đậu bên mé sông Ba Lai và dựng một lều cao trên một mẫu vườn dừa, rồi ngồi tu “tịnh khẩu”.  Kỹ sư Nguyễn Thành Nam bắt đầu xưng giáo chủ của một đạo lấy tên là “Đạo Dừa”.

Nhận thấy địa điểm nói trên có nhiều điều bất lợi, ông Nguyễn Thành Nam chuyển toàn bộ cơ sở về mũi Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch (nằm bên tuyến phà Rạch Miễu hiện nay). Tại đây, ông đặt mua một xà lan lớn có sức chứa hàng trăm tấn, thiết kế làm ba tầng đưa về neo đậu bên một khu đất, trên đó xây dựng một số tháp, đài, nhà khách, vườn hoa…

Bây giờ, khách qua lại bến phà Rạch Miễu vẫn còn thấy một số công trình xây cất ,vết tích còn lưu lại của đạo Dừa.

Hiện nay, chiếc xà lan làm nơi hành đạo của ông Nguyễn Thành Nam được đưa về làm khách sạn nổi trên sông Bến Tre ở thị xã, còn cơ sở xây cất ở cồn Phụng được biến thành nơi nghỉ  dưỡng và là một địa chỉ du lịch để phục vụ công chúng và du khách .

Chúng tôi dùng cơm trưa ở nhà hàng gần khu kiến trúc của ông đạo Dừa.

Trong bảng thực đơn có hầu hết những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm sả; các món ăn biến tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm; các món ăn chế biến có nước cốt dừa.

Ngồi dưới bóng mát những tán cây trên bờ cù lao Phụng, nhìn những chuyến tàu thuyền xuôi ngược và qua lại trên sông Tiền, hưởng làn gió mát từ sông lên, chúng tôi ăn một dĩa đuông dừa chiên bơ uống bia và thưởng thức cái lẩu mắm là bửa ăn đậm đà hương vị ẩm thực Nam bộ.

Về lại nhà ở tập thể của O Dượng trong khuôn viên công ty địa chất 88, tắm vòi nước nóng để xua bụi đường và tan mệt nhọc, chiều chúng tôi lên đường về Vĩnh long.

Chúng tôi theo quốc lộ I qua các huyện Châu Thành, Cai lậy, Cái bè đến bến phà Mỹ thuận. Bến phà nối Tiền Giang với Vĩnh Long, hai bờ cách nhau chừng 1 km. Bờ bắc, bờ nam mặc dù là hai tỉnh khác nhau nhưng đều có tên là Mỹ Thuận. Lên bờ đi 9 km thì đến thị xã Vĩnh Long. Chúng tôi ở lại khách sạn Cữu Long, số 1 đường 1/5, thị xã Vĩnh Long. Khách sạn có vị trí nhìn ra ngã ba sông rất đẹp, tiện nghi khá tốt.

Buổi chiều, đi tản bộ trên bờ sông hóng ngọn gió lành chúng tôi cảm thấy thích thú vô cùng. Nhìn qua bên kia sông, những rừng dừa tít tắp. Tà tà đi đến chợ chúng tôi tìm mua cho được hai loại trái cây đặc biệt của Vĩnh Long là bưởi Năm Roi và sầu riêng Sáu Ri.

Giống bưởi Năm Roi do ông Trần Văn Bưởi (1918 – 1990) người làng Mái Dầm (nay thuộc xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, Hậu Giang) tìm thấy. Sinh thời, ông Bưởi làm nghề buôn bán trên sông. Một tối ông ngủ lại trên ghe bầu ở Tân Châu (vùng Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang thời Pháp thuộc) thì vô tình nhặt được một trái cây trên sông. Trái cây da có màu xanh, ruột màu vàng ươm. Xẻ ra nếm thử thấy vị ngon, mọng nước ông Bưởi rất thích. Ông lấy hột mang về quê Phú Hữu (chợ Mái Dầm) để trồng.

Sau khi giống bưởi này được phổ biển khắp vùng quê ông Trần Văn Bưởi, người các nơi khác cũng đến xin giống cây về trồng. Ngày nay, bưởi Năm Roi được trồng nhiều nhất là ở Phú Hữu, Châu Thành, Hậu Giang và  huyện Bình Minh, Vĩnh Long. Có thể nói chỉ có hai nơi này là trồng bưởi Năm Roi chất kượng nhất. Cây ít bị sâu bệnh, trái ngọt và to.

Tương truyền, sợ con cháu trong nhà hái trái làm mất giống cây quí nên ông Bưởi đe: “Đứa nào mà hái trái cây của ông Bưởi là ông đánh năm roi nghe chưa”. Vì câu nói của ông, giống bưởi có tên gọi là “Năm Roi”. Bưởi năm roi có tên gọi từ đó.

Còn sầu riêng Sáu Ri là lấy tên theo tên ông Sáu Ri ở ấp Phước Định 1, xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long, từ những năm đầu thập niên 1990 đã nổi tiếng là người tiên phong trồng và cho ra trái một giống sầu riêng mới: cơm vàng, khô ráo, cầm không dính tay; hạt lép, vị ngọt, mùi thơm. Loại sầu riêng này có phần ngon hơn. sầu riêng Cái Mơn bên Bến Tre.

Đi một ngày thấm mệt, chúng tôi vào giấc ngủ sâu cho đến sáng. Khách sạn bao luôn bửa ăn sáng trong giá phòng chúng tôi dùng điềm tâm cũng với món hủ tiếu Nam vang,

Chúng tôi đi vô chợ kiếm trái dừa sáp dùng thử cho biết. Đây là loại đặc sản hiếm chẳng nơi nào có. Chỉ có ở Cầu Kè, Trà Vinh mới có giống dừa độc đáo này. Năm 1992. Giá một trái dừa sáp chỉ gấp rưởi, gấp đôi giá trái dừa xiêm. Nghe nói sau này, trong những dịp lễ hội. một trái dừa sáp có giá lên tới 300000-400000 đồng.

Theo người địa phương, dừa sáp Cầu Kè có nguồn gốc từ một giống dừa ở Philippines, nhưng các cây giống lại do một sư ông từ Campuchia mang về năm 1942. Ban đầu, cây dừa sáp được trồng trong chùa, sau thấy trái lạ và ngon nên người dân quanh vùng xin giống mang về vườn nhà trồng.

Dừa sáp chỉ khác dừa bình thường ở ruột trái, còn lại cây, lá, vỏ, điều kiện thổ nhưỡng không khác gì dừa thường. Sau hơn nửa thế kỷ trồng, tích luỹ nhiều kinh nghiệm, người nông dân Cầu Kè nhân được 5 giống dừa sáp: sáp tròn, sáp dài, sáp có cạnh, sáp vỏ xanh và sáp vỏ vàng.

Ruột trái dừa sáp dày gấp đôi (hoặc gấp ba) ruột trái dừa thường, gồm 3 phần: phần ruột sát vỏ dẻo ít, phần ruột tiếp xúc với nước dừa mềm và rất dẻo, trong cùng là nước dừa (ít hơn nước trái dừa thường rất nhiều, thể lỏng sền sệt, vị ngọt nhẹ). Dừa sáp chủ yếu được nạo ăn trực tiếp. Miếng dừa dẻo, ngọt, thơm và một chút  beo béo . Cơm dừa sáp còn được dùng xay sinh tố (cùng đường, sữa, đá bào) uống rất ngon. Một số nhà hàng còn dùng cơm dừa sáp trộn với các loại trái cây xắt hạt lựu ướp đá làm món tráng miệng hấp dẫn.

Rời Vĩnh Long, chúng tôi theo quốc lộ I đến bến phà Cần Thơ. Chúng tôi lấy phòng ở khách sạn  Kim long tọa lạc tại trung tâm thành phố , gần chợ Cần thơ.

Để hành lý lại khách sạn, chúng tôi lên đường đến Sóc Trăng, nơi có Chùa Dơi nổi tiếng.

Tới ngã ba Tân Phú Thạnh, chúng tôi rẻ vào quốc lộ I, đi một lèo tới Sóc trăng. Khoảng cách chừng trên 30 km. Chùa Dơi tọa lạc ở số 73B đường Lê Hồng Phong, phường 3, thành phố Sóc Trăng,cách trung tâm thành phố khoảng 2km

Gọi là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của hàng vạn con dơi, phần lớn có sải cánh 1-1,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m.. Trên những cành cây khắp khuôn viên chùa rộng lớn  là nơi cư trú của hàng vạn con dơi quạ từ bao đời nay, chúng treo mình xếp cánh, úp mặt, móc chân lủng lẳng dày đặc trên những cành cây trong khuôn viên chùa vào ban ngày. Chừng khoảng 6 giờ chiều dơi bay đi kiếm ăn đến 5 giờ sáng hôm sau lại quay về. Ðiều thú vị nữa là dơi không bao giờ ăn và phá hại trái cây trong khu vực chùa, nơi chúng nương náu.

Thật ra gọi đúng tên chùa là Chùa Mã Tộc ( chùa Wathsêrâytecho Mahatup) được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Khmer cách đây 400 năm tại tỉnh Sóc Trăng và đã được trùng tu nhiều lần. Chùa có tôn trí pho tượng đức Phật cổ bằng đá cao 1,5m và nhiều bộ kinh luật viết trên lá cây thốt nốt.

Buổi chiều chúng tôi về lại Cần Thơ ,đi vào chợ mua trái cây. Quán cơm ở gần chợ giá cả vừa phải mà ngon. Tối, chúng tôi đi dạo trên bến Ninh Kiều.

Bến Ninh Kiều nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông này và sông Cần Thơ, đường Hai Bà Trưng, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Đi dạo trong phong cảnh sông nước hữu tình bên dòng Hậu Giang hiền hòa đón gió lộng từ sông lên thật thú vị vô cùng.

Bến Ninh Kiều trước đây là một bến sông ở đầu chợ Cần Thơ. Ninh Kiều ngày ấy có tên là bến Hàng Dương, hàng ngày tấp nập thuyền bè qualại. Con đường Hai Bà Trưng hiện nay trước đây là đường Lê Lợi, nên dân chúng gọi bến sông là bến Hàng Dương hay là bến Lê Lợi. Năm 1958 bến sông và công viên này được đặt tên là bến Ninh Kiều để kỷ niệm một trận đánh oanh liệt của Lê Lợi chống quân Minh:

“Tuy Động thây phơi đầy đất
Ninh Kiều máu chảy thành sông”.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi thuê chiếc tác ráng len lỏi vào chợ nổi Cái Răng. Ở miền Tây là vùng sông nước nên có nhiều chợ nổi nhưng chợ Cái Răng của Cần Thơ là nổi tiếng nhất.

Chợ chỉ cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 5 km và buôn bán nhộn nhịp từ sáng sớm đến khỏang 8-9 giờ thì vãn.Lúc này khoảng 6h sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau để cùng tham gia chợ nổi.Trên thuyền chất đầy hàng hoá,phổ biến là các loại trái cây, các sản phẩm miệt vườn được treo lủng lẳng trên một cấy sào cắm trươc mũi ghe mà người địa phương gọi là “cây bẹo”. Vì thế mà người mua chỉ cần nhìn vào “cây bẹo” là biết được trên ghe bán thứ gì. Chợ nổi Cái Răng là chợ đầu mối chuyên mua bán sỉ các loại trái cây, nông sản của vùng. Hàng hoá ở đây với số lượng lớn và mỗi mặt hàng đã được phân loại nên đồng đều về chất lượng kích cỡ. Nếu như dân địa phương và các vùng lân cận sử dụng các ghe xuồng trung bình chở các mặt hàng nông sản đến đây tiêu thụ thì những ghe bầu lớn là của các thương lái thu mua trái cây toả đi khắp nơi, thậm chí đưa sang tận Campuchia.

Giờ này cũng là lúc chợ nổi sôi động nhất, cả khu chợ như phình to ra, lấn gần hết cả lòng sông. Mọi thứ âm thanh loạn cả lên. Nào là tiếng máy nổ, nào là tiếng chèo khua nước,tiếng sóng vỗ òm oạp vào mạn thuyền rồi tiếng cười nói, tiếng người mua kẻ bán, tất cả tạo nên một vẻ sầm uất và xô bồ không kém gì những khu chợ trên cạn. Nhịp sống năng động ở chợ trên sông thể hiện qua những chiếc ghe nhỏ bán thức ăn, cà phê thậm chí cả đồ nhậu len lỏi trong chợ, phục vụ nhu cầu của tất cả mọi người từ đàn ông, phụ nữ đến trẻ em. Chỉ cần 4.000-5.000 đồng cho một bát hủ tiếu hay 2.000 đồng cho ly cà phê đá – tuy không ngon lắm nhưng bạn sẽ rất thú vị khi được thưởng thức nó trong không khí mênh mang sông nước. Ở chợ nổi còn có đầy đủ các loại dịch vụ từ sửa máy, sửa cân,ghe bán xăng dầu đến những cửa hàng bách hoá như mỹ phẩm, mắm muối, thuốc tây, bánh kẹo…Các xuồng dịch vụ nhỏ gọn, len lỏi rất thiện nghệ áp mạn ghe bán hàng rồi thu tiền, nhưng tất cả đều nhường nhịn nhau. Thỉnh thoảng lẫn trong những đám thuyền ghe chở đầy hoa quả, hàng hoá, lại thấy thấp thoáng những chiếc tàu du lịch cỡ nhỏ phục vụ khách thăm quan, trong đó có  khách nước ngoài. Khách ta, khách tây đủ loại tất cả như bị cuốn vào nhịp buôn bán sôi động đang diễn ra trên sông. Nhìn quang cảnh và sinh hoạt chợ nổi Cái Răng  tôi đã hiểu thêm được biết bao điều về con người, cách sống và những nét sinh hoạt đặc trưng của người dân Nam Bộ. Quả là thú vị.

Đi trên sông nước ,ngắm cảnh bình minh đang lên, chúng tôi tận hưởng những làn gió mát rượi vào buổi sáng sớm mang hơi thở phù sa và dường như có cả cái hồn của châu thổ.

Đến Cần Thơ, nghe bánh xèo của bà Mười Xiềm nổi tiếng ở Trà Nóc, cách Cần Thơ chỉ 15km, chúng tôi cũng muốn đến ăn thử một lần cho biết. Nghe nói quán bà Mười nằm bên vệ đường, mái lá ọp ẹp như tất cả những chòi lá miền quê sông nước khác nhưng khách phải xếp hàng đợi lâu mới có bánh..

Thích thì thích nhưng khi nghe đường đi thì gần nhưng có vô số những cây cầu nhỏ xíu  bắc qua nhiều con lạch nhỏ miền quê nên chúng tôi ngại, lở sơ ý té cả xe lẫn người xuống lạch thì khốn.

C húng tôi vội vã lên đường theo quốc lộ 91 đi Long Xuyên. Chiều đi tiếp về Sa đéc.

Không có nhiều thời gian nên chúng tôi chỉ  ghé qua  thị xã Long Xuyên, đi một vòng, ăn trưa xong chúng tôi hỏi đường nào gần nhất đi qua Sa đec, nhiều người chỉ cùng một lối đi: Qua phà Vàm Cống, men theo quốc lộ 80 mà đi. Người ta còn cảnh báo là đường xấu lắm. Tôi không hỏi kỹ chỉ nghĩ xấu lắm là đường ổ trâu , ổ voi, mình cứ tránh là được. Không ngờ, chuyến đi từ phà Vàm Cống về tới Sa đéc là một thảm họa thật sự. Con đường quốc lộ 80 đi song song với một dòng kênh thẳng tắp đang được làm mới, đang còn ở giai đoạn đổ đá nền . Những tảng đá hộc, kích cở bằng hai bàn chân đang còn lổn chổn trên đường nên  xe gắn máy nhảy lóc chóc như phi ngựa không thể nào chạy mà không té nên tôi phải dắt xe dẩn bộ. Mặc dù vẫn để máy nổ nhưng đi một đoạn chúng tôi phải dừng lại nghỉ. Mệt muốn đứt hơi. Đường vắng không một bóng người và xe cộ. E chừng qua hai mươi km đường như vậy chúng tôi mới tới đoạn đường tráng nhựa về Sa đéc. Đoạn đường chiến binh đó chúng tôi vừa đi vừa nghỉ mất hơn hai giờ đồng hồ. Tới Sa đéc, trời chiều sập tối. Hú hồn.

Tới khách sạn chúng tôi tắm rửa nghỉ ngơi một chút rồi hỏi tiếp tân khách sạn quán  hủ tiếu Sa đec nào ngon.

Họ chỉ một quán bình dân trên một con đường nhỏ có món ngon đặc biệt là hủ tiếu khô. Họ cam đoan với tôi,ăn một lần là nhớ mãi vì  chỉ có ở xứ này thôi.

Bất ngờ đầu tiên là hủ tiếu được trình bày trong đĩa thay cho tô. Cọng bánh cũng to hơn bình thường và trắng ngà. Người ta để lên đó những tim, gan và thịt heo xắt thành từng lát to che gần kín đĩa. Món ăn trông hấp dẫn hơn nhờ một loại nước xốt màu vàng đậm được rưới lên trên, thoang thoảng mùi thơm. Đĩa hủ tiếu còn được tô điểm bằng vài cọng hẹ, cải xà lách xắt nhuyễn và một ít hành phi.

Chúng tôi ăn khi dĩa hủ tiếu còn nóng và  trộn đều cho nước xốt thấm vào từng sợi hủ tiếu. Thứ nước dùng sền sệt, beo béo và đậm đà quyện lấy từng sợi hủ tiếu vừa mềm vừa dai tạo một cảm giác ngon miệng đặc biệt.

Được biết, công thức pha chế loại nước xốt lạ này là “bí kíp” riêng của quán hủ tiếu ở đây. Khác với sợi bánh khô dùng cho hủ tiếu Mỹ Tho, sợi bánh hủ tiếu Sa đec chúng tôi ăn là loại hủ tiếu tươi được làm bằng bột gạo.

Hủ tiếu Sa Đéc trước nay được xếp vào hàng món ngon Nam Bộ, sánh ngang với hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho. Nhưng ẩm thực Sa Đéc có phần còn phong phú hơn khi ngoài món hủ tiếu nước, hủ tiếu khô thì họ còn có thêm món hủ tiếu hấp cũng thú vị không kém.

Chúng tôi đi xe gắn máy tà tà quanh thị xã. Chỉ có mấy con đường phố hiền hòa. Chúng tôi ghé tới chợ trái cây bán đêm bên bờ sông. Dưới cột đèn đường chiếu ánh sáng vàng vọt là một dãy những người bán nhiều loại trái cây. Mỗi người bán để trên gánh hàng của mình một cây đèn măng-sông (manchon) nên cả dãy hàng dài bốn năm chục mét sáng rực trên lề đường ven sông.

Chúng tôi chú ý ngay một cô gái đẹp nổi bật giữa những người bán hàng.

Cô gái có dáng dấp và vẻ đẹp mặn mà thôn nữ nhưng phong thái kiêu sa như con nhà khuê các, lời ăn tiếng nói dịu dàng lễ phép, đặc biệt là giọng Nam bộ ngọt như mía lùi.

Hàng trái cây của cô cũng tươi và đẹp. Những trái xoài tươi múp míp còn nguyên cuống xanh. Bà xã tôi hỏi “ Chục nhiêu ?”( bao nhiêu tiền một chục) bắt chước giọng người nam nhưng vẫn lòi cài đuôi giọng Huế trọ trẹ. “ Dạ, mười ngàn, xoài cát Hòa Lộc đó cô”. “ Chắc không?”. “ Cô mua lầm chứ bọn em bán đâu có lầm, người Sa đéc thật thà lắm cô”. ”Cô cứ coi, xoài cát Hòa lộc và xoài cát Chu nhìn giống nhau nhưng cát Chu múp, màu vỏ ngả qua màu vàng nghệ, xoài cát Hòa Lộc hình dạng thuôn dài, vỏ màu vàng mơ. Mùi thơm xoài cát Hòa lộc bay xa. Đặc biệt phía bụng từ cuống tới đầu trái xoài cát Hòa Lộc có cái rảnh nhõ mà cát Chu thì không có”.

Bà xã tôi rất thích xoài cát Hòa lộc, thấy xoài tươi ngon giá rẽ thích mua nhiều nhưng tôi cản vì cồng kềnh quá( ở Sài gòn một chục mười quả tươi ngon thế này giá cũng đến hai chục ngàn đồng). Vừa ngồi lựa xoài vừa nói chuyện với cô gái, chúng tôi biết là cô gái sắp theo gia đình đi Mỹ theo diện HO. Cha cô là trung tá trong quân đội Sài gòn, đi “ học tập cải tạo” về mấy năm rồi, cửa nhà sa sút, cô phải bỏ học đi bán phụ cha mẹ nuôi gia đình. Mẹ cô là dòng dõi của ông Huỳnh Thủy Lê, một đại điền chủ của vùng đất Sa Đéc xưa kia.

Ông Huỳnh Thủy Lê là nhân vật chính được nhắc đến trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Người tình” (L’amant) của nữ văn sĩ Pháp danh tiếng Marguerite Duras. Đó là một chuyện tình có thật gắn liền với ký ức thời thiếu nữ của bà lúc bà mới 15 tuổi .Trên chuyến phà theo dòng sông Mê Kông nối liền Sa Đéc với Vĩnh Long, bà đã gặp người tình của mình, ông Huỳnh Thủy Lê. Từ đó, một thiên tình sử tráng lệ ra đời.

Truyện”Người tình”  đã được dựng thành phim, do Jean-Jacques Annaud đạo diễn lấy bối cảnh là Sa đec,  trường Marie Curie ở Sài gòn và khu Chợ lớn, với các ngôi sao Jane MarchLương Gia Huy và Lisa Faulkner. Bộ phim bắt đầu được bấm máy tại Việt Nam năm 1986, hoàn thành năm 1990 . Thời gian làm phim là bốn năm nhưng họ mất hai năm đầu chỉ làm công việc tiền trạm và thiết kế. Phim do hãng Cinematic Hongkong và Liên hiệp điện ảnh băng từ TP HCM làm dịch vụ. Cuối năm 1991, Người tình đã được công chiếu ở TP HCM. Việt Nam. Tuy nhiên, bản phim chiếu tại Việt Nam là bản tiếng Pháp đã bị cắt hầu hết cảnh nóng so với bản tiếng Hoa và tiếng Anh.

Bà xã tôi lựa xong 12 trái xoài (cứ nghĩ là chục mười hai trái là tốt lắm rồi), đưa cho cô gái bỏ vào túi xách. Cô gái hỏi “ Cô mua một chục hả? Lựa thêm đi cô, ở  Sa đéc chục mười tám lận cô à.”

Chúng tôi rất ngạc nhiên và vô cùng cảm kích. Chục mười tám. Nghe có lộn không đây?

Chúng tôi đã mua xoài, măng cụt, cam quýt và những trái cây tính chục. Ở Sài gòn chục là 10 trái. Mỹ Tho chục mười hai, Bến Tre chục 12, Cái Bè chục 14, Vĩnh long chục 14, Cần Thơ chục 12. Không nơi đâu có chục 18 như ở Sa đéc.

Bây giờ khắp đất nước Việt Nam, ở đâu người ta mua bán hàng hóa cũng theo trong lượng tính bằng kilogram. Thời kỳ bán mớ rau, bán nạm hành, bán rổ cá , bán ngảo tôm, đong lon  gạo bán mẹt trái cây đã qua rồi. Bây giờ tôi kể lại chuyện này với cách bán trái cây tính chục là kể chuyện cổ tích. Trong chuyện cổ tích đó có chuyện mua xoài CHỤC MƯƠÌ TÁM ở Sa đec.
*                *

*

Chục nguyên nghĩa là 10. Nhưng khái niệm chục trên đất Nam bộ là một con số biến thiên theo quy chuẩn của mỗi vùng, mỗi tỉnh thành. Chục là mười mấy tùy theo mỗi địa phương. Đó là một chuẩn mực được sự đồng thuận của hầu hết mọi người trong vùng miền đó. Chẳng ai thắc mắc vì sao như thế. Vùng này vùng kia không nhìn nhau mà toan tính thiệt hơn. Đây là một nét vô cùng đặc trưng của người Nam bộ lúc đó.

Từ Sài gòn ra miền Trung, lên miền Bắc chẳng có nơi nào mua bán mà tính chục theo lối nói của người Nam bộ. Chục là 10. Thế thôi. Làm chi mà có chục 18?

Người Nam bộ có những tố chất rất đáng quý, đáng mến. Tính tình họ bộc trực thẳng thắn,ruột để ngoài da, không thích vòng vo, chúa ghét ba xạo. Họ hào phóng, hiếu khách, Họ trọng nghĩa khinh tài. Họ chân tình và thật thà. Không nơi nào ở miền Bắc ,ở miền Trung mà con người đồng đều có nhiều tố chất tốt đẹp như vậy.

Chục mười tám thể hiện sinh động tính hào phóng của người dân Nam bộ. Chục mười tám ghi một vết son đậm nét trong lòng tôi. Cả đời tôi sẽ luôn nhớ đến cô gái đẹp “ chục mười tám” một lần gặp gở ở chợ trái cây Sa đéc.

*            *

Sáng hôm sau,chúng tôi theo lời giới thiệu của cô tiếp tân khách sạn đi ăn một món đặc sản khác cùa thị xã Sa đéc. Món chả cua đồng.

Trên đĩa sứ trắng tinh bày biện rất khéo là màu xanh của dưa leo, màu đỏ cà chua, chính giữa là một khối chả cua đồng màu nâu sẫm có rắc đậu phộng rang giã giập cùng vài cọng ngò điểm xuyết phía trên trông thật bắt mắt. Cạnh đó là một đĩa bánh phồng tôm chiên vàng nóng hổi, thơm lựng. Tôi lấy miếng bánh phồng tôm xúc một ít chả cua đồng bỏ lên miếng bánh rồi đưa vào miệng. Vị ngọt, mềm, thơm của riêu cua, vị chua chua, giòn giòn của cà, dưa leo kết hợp vị béo của bánh phồng tôm giòn tan trong miệng,kích thích mọi giác quan, thật là ngon tuyệt vời!

Ăn sáng xong, chúng tôi ra quán cà phê cóc ven sông, nhìn nước chảy bèo trôi, thuyền bè đi lại, nhâm nhi tách cà phê, nói với nhau chuyện chục mười tám và cảm nhận sâu sắc cái sự hào phóng và tình tự của người Nam .

Xong , chúng tôi ghé thăm vườn hồng Tư Tôn nổi tiếng ở Sa đéc.

Cho tới xế chiều chúng tôi mới về tới nhà.

Chúng tôi đã thực hiện một hành trình qua bảy tỉnh trong 4 ngày 3 đêm vô cùng kỳ thú qua dặm trường mấy trăm cây số. Mệt nhưng vui.

Với tôi, sau chuyến đi, cho đến bây giờ, điều đọng lại mang tính nhân văn sống động nhất, đáng nhớ nhất là CHỤC MƯỜI TÁM.

 

Lê Duy Đoàn,

Sài gòn,12/6/2013.

 

 Chú thích:

1.                  Tông banana ( tục) : Tiếng Đại Hàn nghĩa là chuối cứt.

2.                  Nam kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh là tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn độc lập, tức là khoảng thời gian từ năm 1832 (cải cách hành chính của Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây). Đương thời, người Pháp gọi Nam Kỳ Lục Tỉnh bằng cái tên Basse-Cochinchine (tức là vùng Cochinchine “hạ” hay vùng Hạ Đàng Trong).

Vua Minh Mạng năm 1832 đã đổi các trấn thành tỉnh, đặt ra Nam Kỳ và chia đất Nam Kỳ, vốn trước là tổng trấn Gia Định, thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh. Đó là các tỉnh:

·                     Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông;

Trong dân gian, còn chia thành ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Qua nhiều chính thể, cho đến bây giờ miền Nam Việt nam chia ra thành 17 tỉnh.

Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía nam và hai thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Khu vực này chia làm 2 vùng chính:

( Theo Wikipedia tiếng Việt)

 

Tham khảo và trích dẫn:

Chúng tôi chân thành cám ơn các tác giả có bài viết được tham khảo và trích dẫn trong bài viết này:

–                      Chợ nổi Cái Răng: Trích Du lịch Văn hóa Việt.

–                      Hủ tiếu Mỹ tho: Trần văn Chi theo NVOL.

–                      Hủ tiếu sa tế: Thanh Viên – Viet Press.

–                      Hủ tiếu Sa đec: Chí Nhân- Saigonamthuc.

–                      Về Sa đec ăn chả cua đồng. Tuổi trè và Đất Việt.

–                      Sầu riêng Sáu Ri: Traicaymiennam.vn.

–                      Sầu riêng Cái mơn: Đặc sản vùng miền.

–                      Bưởi Năm Roi: Wikipedia tiếng Việt.

–                      Dừa sáp: Đài phát thanh và truyền hình Cần Thơ.

Advertisements

Tìm Cha (Hải Trình)


Hải Trình

Người ta thường bảo cái tên của mỗi người cũng có ảnh hưởng đến cuộc đời, đến số phận của họ – Với o Mọi thì trường hợp nầy chỉ đúng có một nửa. Vừa chào đời, nước da đã đen đủi, tóc xoắn như lò xo; thế là mẹ chọn ngay cái tên xấu xí nhất để đặt cho con gái đầu lòng – con Mọi. Một sự miệt thị quá sổ sàng! Nhưng kêu riết rồi cũng thành quen. Mà cũng tội nghiệp cho nàng, khi đến tuổi mẹ cho để tóc và bắt đầu biết làm quen với gương lược; thì o Mọi đã biết xót xa về cái tên mẹ đặt, cọng với cái nhan sắc khó coi; khiến o càng tủi thân. Khi đã học thuộc vần xuôi, đọc trôi vần ngược. Mọi phải ngậm ngùi giả từ bạn bè và ngôi trường thân yêu để theo nghiệp cha mà chăn trâu cắt cỏ.

Tin cô Lan, Việt kiều Mỹ con ông Thủ ở đầu làng sắp về quê được tung ra nửa kín nửa hở. Người ta cẩn trọng cũng phải. Giữa cái buổi tranh tối tranh sáng của thời kì đầu mở cửa cũng còn lắm chuyện đáng hoài nghi. Để chắc ăn. Lan chọn một chiếc xích lô, buông kín mui, rời khách sạn, vượt mươi cây số để về quê đúng vào lúc trời nhá nhem. Vậy mà hừng đông hôm sau, cả cái làng Diên Trường nầy đã hay hết mọi chuyện. Có người dè bỉm, mách xéo: – Hôm nay làng mình có Việt kiều “Xích lô” mới về “oai” chi lạ! Bà năm Khả dưới bến đi lên, vừa nhả xong cái bả trầu đã oang oang: – Gớm thiệt, bộ con Mọi sợ bà con mình đến xin đô la nên ban đêm mới về làng. Vừa đứt lời thì lão Ấm vừa ngang qua đã chen vào: – Đừng kêu cái tên tục xẫu xí ấy ra làm người ta buồn. Bà năm trương cổ cãi lại: Sợ gì nó vậy, đó là cái tên mà cha mẹ nó đặt, cả cái làng nầy ai mà không biết. Ai sợ nó thì cử, còn tôi thì còn lâu! Biết cãi cũng chẳng ích gì, Lão ta bỏ đi một mạch. Khoảng thời gian nầy, ít khi có mặt ở nhà, hình như o đang chạy vạy giấy tờ gì quan trọng lắm thì phải. Ở chừng mươi ngày thì o Mọi đã vội vã trở về Mỹ.

Hơn nửa kiếp người sống cơ cực, tưởng đâu ra đi lần nầy là đoạn tuyệt với quá khứ buồn đau. Nhưng cuộc sống đâu phải giản đơn – Vật chất không thể giải quyết được tất cả. Nhớ lại cái đêm nghe lén cuộc chuyện trò, toan tính thiệt hơn của cha mẹ mà lòng uất nghẹn, nước mắt tuôn trào: – Con Mọi nay đã lớn. Tôi tính như thế nầy mẹ mầy xem có được không? Trời sinh ra nó xấu xí, ở cái mãi trong cái làng nầy cho đến già cũng chẳng kiếm được một tấm chồng. Chi bằng cho nó đi xa làm mướn cho người ta, trước hết nhà đỡ một miệng ăn, lại còn có tiền để lo cho em út nó học hành và biết đâu khi nó đã trắng da dài tóc lại có người mai mối. Mẹ ái ngại bàn lui: – Ông tính vậy nghe ra cũng phải, nhưng theo tui thì nên ráng cho con nó học lấy một cái nghề, để sau nầy đỡ vất vả. Nó mê cái nghề may lắm, nhưng nó không dám nói ra. Nghe xong cha “hử” một tiếng rồi bắt đầu xẳng giọng: – Thôi thì mặc mẹ con bây, để mai tôi đi xin lỗi người ta. Hôm qua tôi đã lỡ hứa với chú Mạo cho nó vào Sài gòn, giúp chú bán quán cơm. Tuy thương con, nhưng làm sao cản ngăn được người chồng vốn độc  đoán, gia trưởng. Mẹ chỉ biết buông tiếng thở dài và nước mắt chảy vào trong… Nhưng rồi cũng chính nhờ cái tính độc đoán đó mà o Mọi mới có được sự đổi đời ngoạn mục như ngày nay.

Nhớ cái ngày mẹ con bồng trống nhau về quê chỉ hai tháng sau ngày hòa bình lập lại. Vốn liếng chỉ vỏn vẹn có cái xách tay đựng ba mớ đồ cũ. Thế là thổ lại hoàn thổ. Tay lại mang hai đứa con “Ngoại lai”; một cái gai đối với những người đương quyền. Chính hai giọt máu oan cừu nầy đã gây không ít phiền toái cho cuộc đời nàng vốn đã đi vào ngõ cụt. Nó còn hụt hẩng hơn cả cuộc chia tay với người chồng hờ bất đồng ngôn ngữ, khi hắn phải quay về bến cũ bên kia bờ đại dương. Cứ nghĩ là đi khỏi Sài gòn để tránh sự nhiểu nhương của mấy anh cán bộ “Ba Mươi” về tội đã có con với Đế quốc. Cứ tưởng trở về quê hương sẽ được sống trong sự bảo bọc của bà con và tình làng nghĩa xóm; nhưng rồi có ra gì cái thân phận của kẻ “Mang thân về ở vườn dâu cũ” (1). Đã cực mà đâu có được yên thân. Cũng phải mấy bận lên xuống Ủy ban để viết tường trình về lai lịch hai đứa con lai . Thế là chị không được cấp hộ khẩu; nghĩa là không có tất cả. Kiến bò miệng chén; cuối cùng thì cũng phải quay về nghề cũ.Thức trắng đêm, ngâm mình trong giá lạnh, gồng mình mà đẩy. Sáng ra thu được mấy kí tép rong, đổi được chừng vài ba kí gạo. Đêm khuya, bốn bề vắng lặng buồn tênh, chị còn biết lấy câu hò điệu hát để làm bạn đồng hành. Tạo hóa cũng không đến nỗi bất công, trời đã phú cho chị một giọng hò mái nhì hay đáo để. Trăng thanh cảnh vắng, khi những cơn gió nồm chỉ thoang thoảng quét nhẹ hơi sương. Giọng  chị cất lên nghe như nửa liêu trai, nửa lẳng lơ mời gọi, thánh thót ngân nga trong cõi mênh mông trời nước:

Con chim đại bàng nó bay qua hòn núi bạc /

Con cá ngư ông lui về giởn mát ở ngoài khơi /

Gặp nhau đây sao chẳng phân tỏ một đôi lời /

Kẻo một mai tê con cá ngư ông nó lui về sông vịnh, con chim nó đổi dời non cao.

Câu hò mẹ không dạy, mà thuộc được khi đêm về nghe cha hát khẻ bên bờ ruộng, nương khoai. Thế mà nàng đã đành đoạn cắt đứt mối thâm tình, cho đến ngày người nhắm mắt mà vẫn không nhìn thấy mặt. Giận mãi cái chuyện cha không cho đi học nghề may mà lại bắt đi ở mướn. Giận đến nỗi thề sẽ không bao giờ trở lại quê hương. Chị có biết đâu chưa đầy hai năm xa quê thì cha lâm trọng bệnh. Trước lúc mất, người đã trăn trối bằng mọi giá mẹ phải gọi con gái về. Bán đi một con trâu mà sắm một giàn máy may rồi cho con đi học nghề theo ý nguyện! Dần dà rồi cũng nối lại được nếp sống ngày xưa. An phận thủ thường bên mẹ già con dại. Bà cháu hẩm hút bên nhau, hai đứa nhỏ rồi cũng hòa nhập với môi trường mới. Chúng đã được đến trường như bao đứa trẻ khác, không còn bị phân biệt đối xử như những ngày đầu. Mẹ con chị đã được chính quyền cấp hộ khẩu. Cuộc sống cứ êm đềm trôi đi  lặng lẽ sau lũy tre làng.

Mấy hôm nay, con đường quê nhỏ bé nầy thỉnh thoảng lại vang lên tiếng còi ô tô sang trọng của mẹ con Việt kiều Lan đi về. Giờ nầy thiên hạ ai cũng trố mắt xầm xì nhìn hai gả Mỹ đen cao lớn đi với một chàng trai Việt  thanh lịch nói nửa tiếng Anh lai tiếng Việt. Người hãnh diện nhất vẫn không ai ngoài bà ngoại của chúng. Ngày chị Mọi sinh đứa con rơi thứ ba, bà đã dám thẳng thừng tuyên bố: “Thằng Lầm là con Cách mạng nòi đó. Nhưng con dại thì có cháu ngoại mà nuôi. Đừng hòng có ai đến đây mà nhìn dòng nhìn giống”. Bà nói mạnh như thế để bịt mấy cái miệng nhàn công rỗi việc, ngồi lê đôi mách. Độ  rày bọn cơ hội đã ngửi được cái mùi đổi thay của thời cuộc. Chúng ráo riết đi lùng sục khắp hang cùng ngõ hẹp để gạ gẫm người nhẹ dạ, mua bán con lai. Nhưng chị Mọi đã biết cảnh giác. Hồ sơ xuất cảnh của chị và các con đã hoàn thành mà chẳng một ai hay biết. Đến lúc đãi tiệc chia tay thiên hạ mới vỡ lẽ. Về nước lần nầy, việc trước tiên là xây lăng mộ để gọi là báo hiếu cho cha ,để chuộc lỗi với người. Đưa mẹ già sang Mỹ để phụng dưỡng. Mẹ chị từ chối, mẹ bảo không muốn gửi xác nơi quê người, hơn nữa bà cũng không nỡ nào để cho nắm xương tàn của chồng cô quạnh. Nhưng nan giải nhất là chuyện thằng Lầm muốn ra mắt họ hàng bên nội; để được làng nước biết nó là người có gốc gác đàng hoàng.

Trong căn phòng nhỏ, mấy mẹ con đang ngồi bàn tính việc trọng đại nầy. Chị Mọi bồi hồi nhắc lại chuyện xưa: – Hồi ấy tuy mẹ xấu xí, nhưng cha mê giọng hò của mẹ. Những đêm trăng sáng, mẹ đi nhủi tép dưới bàu, cha cắm câu trên bờ ruộng. Hẹn hò nhau chỉ được mấy lần, rồi bén duyên nhau. Chưa tính được chuyện trăm năm thì quê hương đã ngập tràn khói lửa. Cha theo kháng chiến, mẹ thì lưu lạc phương xa. Ngày hòa bình, gặp lại nhau trong nghịch cảnh. Cha giận mẹ lắm. Nhưng khi thấu hiểu hoàn cảnh nghiệt ngã của mẹ,người cũng cảm thông. Tình cũ không rủ cũng đến. Và con đã ra đời giữa hoàn cảnh đầy khó khăn trắc trở đó. Nghe xong Lầm lạnh lùng hỏi mẹ: – Đã đốn được sao lại không dám vác hở mẹ? Ở xứ người, cha mẹ nuôi mà còn được bảo lãnh. Còn ở xứ ta, con mình đẻ ra mà không dám nhận nó là lí do gì? Mẹ nói như để phân bua: – Mẹ nghĩ là con cũng không nên cạn tàu ráo máng với người đã sinh ra mình như thế. Con không biết người Cách mạng à? Họ khó lắm con ạ. Dễ gì mà họ dám nhận mình đã quan hệ bất chính với một người đàn bà lấy Mỹ như mẹ – Thì nhà nước đã thay đổi tư duy lâu rồi mà, tại sao người ta vẫn quay mặt với con?

– Con nên biết giờ nầy cha con là người có quyền lực nhất ở cái huyện nầy. Mà sinh mạng chính trị của cán bộ là vô cùng hệ trọng. Không khéo là toi công mấy chục năm trời phấn đấu. – Thật tình con không dám trách mẹ. Nhưng mẹ cho con được phép hỏi: -Giữa đạo lí làm người và chức vị; người ấy chọn cái nào? Nghe con nói cứng, chị bèn dịu giọng:

– Thật ra trong thời gian qua, bất chấp mọi hiểm nguy; cha con cũng đã kín đáo thể hiện cái đạo lý ấy nhiều rồi. Chính nhờ sự giúp đỡ tận tình của ông  mà mẹ con mình mới có được ngày hôm nay. Giọng trầm buồn nhưng nghiêm nghị, Bill nhìn về phía Lầm rồi chậm rãi: – Em nên nghĩ lại đi. Hồi đó cha anh và cha em đã ghìm mạng sống của nhau trên tay súng bên  bờ chiến lũy. Thế mà giờ nầy mẹ lại nuôi dưỡng bảo bọc chúng mình trong cùng một tổ ấm tình thương. Em không nên làm khổ mẹ nữa. Xem ra em còn may mắn hơn hai anh nhiều. Em còn có cha để gặp; hai anh đến giờ nầy vẫn còn mang tiếng là những đứa con hoang! Đưa tay lên gạt nước mắt, mẹ nghẹn ngào: – Nghe anh hai con nói mà lòng mẹ đau như cắt. Con rán đi, chỉ còn hai năm nữa cha con về hưu. Ông đã hứa với mẹ là khi đó mọi chuyện đâu sẽ vào đấy. Nãy giờ ngồi lặng thinh. Bỗng thằng Bo nhanh nhẩu chen vào: – Con mong rằng ngày ấy hai con cũng tìm lại được người cha thân yêu đã mười mấy năm thất lạc. Con cũng có giống nòi nữa chứ mẹ.  Thấy nét mặt mẹ thoáng buồn. Nó sà vào lòng mẹ như thuở còn thơ. Vừa nủng nịu vừa bông đùa: Chắc khi ấy mẹ là bà Táo trong chuyện cổ tích rồi. Chị Lan đưa tay véo nhẹ vào tai con mà nở một nụ cười tươi như thời con gái.

Cần thơ

Tháng 10/ 2012

Chú thích:(1) Thơ Nguyễn Bính.

Con rắn ở miếu Thành Hoàng (Hải Trình)


Hải Trình

            Đám ma thằng Côi cô quạnh và lạnh giá như cuộc đời và của chính cái tên của nó. Cổ áo quan được ghép vội từ một chiếc bảng đen đã hỏng với mấy mảnh ván vụn của bác phó mộc hàng xóm tốt bụng, được phủ ngoài bằng một lớp giấy hồng điều trông càng thê lương hơn. Tất cả đều do một tay Giáo Mừng lo liệu. Nó là học trò cưng của thầy; hàng ngày nó tự hào được ôm cái cặp da và cây roi mây lẻo đẻo sau lưng thầy. Trên chiếc bàn ộp ẹp bày một chiếc lon sữa bò thay bát nhang, một chén cơm, một quả trứng và vài ba nhánh hoa vạn thọ; đó là bàn linh của nó.

Không phải đợi đến tháng ba giáp hạt mà chỉ sau mấy trận trời hành cơn lụt mỗi năm; cái làng Hải Trạch này đã có nhiều gia đình thiếu đói. Thanh niên trai tráng và cả một vài người già đơn chiếc còn chút sinh lực tụ tập nhau thanh từng nhóm 5,7 người thuê một chiếc đò, cơm đùm gạo bới, chèo ngược dòng Hương Giang lên miệt đại ngàn để “ ăn mày cố mệ”. Mỗi chuyến đi về phải mất 4-5 ngày. Hôm thằng Côi chết, cha nó cũng đang ở trong đám tiều phu bất đắc dĩ đó. Theo lệ làng, những người chết non phải được an tang ngay trong ngày; để lâu dân làng sẽ gặp nhiều điều xui xẻo.

Lớp Ba của thằng Côi được ưu tiên học ở nhà tăng của đình làng. Sân chơi chỉ là một khoảng đất trống trước lớp không đủ để trên 30 đứa học trò đùa giỡn, quậy phá. Học sinh tuyệt đối không được vào khu vực miếu Thành Hoàng bên cạnh. Trước hôm thằng Côi chết khoảng một tuần, giờ chơi nó và thằng Lữ đã lẻn sang phía sau miếu, chúng đã phát hiện ra một điều bí mật: Cửa hông có một tấm ván rời ra, hai đứa lẻn chui vào miếu rồi nhẹ tay đậy lại. Thế là chúng được tự do tung tác nhưng chỉ là đánh cờ gánh, chơi trò ô ăn quan, đôi lúc chúng cũng tò mò sờ tay vào các đồ tự khí bắt mắt như hai chiếc thanh long đao sáng ngời hay quả chùy tròn lửng với những chiếc gai tua tủa. Nhưng điều mà chúng thích nhất là dùng cây thọc vào bụng 3,4 con tắc kè bông to tướng đeo bám trên chiếc đòn tay ngay phía trên bát nhang. Sáng hôm sau, giờ chơi hai đứa lại rủ nhau vào miếu bằng lối đi bí mật đó. Lần này thằng Côi lại phát hiện ra một điều kì lạ, một con rắn chỉ to bằng ngón tay trỏ nằm quấn quanh bát nhang, toàn thân tỏa sáng một màu hồng, duy có cái đầu là màu đỏ tía, lại có một túm lông tơ trên gáy. Theo hiểu biết của nó thì đây chỉ là một con rắn học trò không đáng sợ. Thằng Côi lấy tay khoèo nhẹ cái đuôi, sờ nhẹ lên mình mà nó vẫn nằm im như ngủ, thấy thế nó mạnh dạn bốc con rắn để lên bàn tay mà vuốt ve, nhìn ngắm; chỉ một phút sau bỗng nhiên toàn thân con rắn phì lên to bằng ngón chân cái. Thằng Lữ sợ quá, nó bảo là “rắn ngài” nên chui ra trước. Thằng Côi lại loay hoay đùa giỡn với con rắn một hồi mới trở ra sau. Vừa đến cửa lớp, bỗng dưng  nó khụy người xuống, mặt mày xanh như tàu lá, thở phì phì, miệng mồm bắn ra toàn nước dải như một kẻ động phong. Đám học trò xúm lại la lên, thầy giáo Mừng hớt hải xốc nó đặt lên cái bàn học. Nó lại càng co giật và tiếng khò khè trong họng càng lúc càng to hơn; bỗng dưng toàn thân nó co dúm lại, đôi mắt trợn tròng; một dòng máu đen ngòm ứa ra từ cái miệng méo lệch. Nó trút hơi thở cuối cùng. Bạn bè nó hốt hoảng có đứa khóc ré lên, có đứa chạy ù đi nơi khác. Giáo Mừng rút chiếc khăn tay lau vội miệng mồm cho nó, sửa lại tư thế nằm cho ngay ngắn rồi thầy đưa tay vuốt nhẹ đôi mắt. Bỗng dưng tay thầy khựng lại; màng tang phía trái  xuất hiện hai vết bầm đen. Thầy lẩm bẩm- Thôi rồi, rắn độc!

Hai ngày sau, ghe củi của thằng Ở mới về đến bến. Nghe hung tin, hắn như người mất trí vừa khóc vừa cười, vừa đi vừa chạy, miệng nó lảm nhảm những gì chẳng ai nghe được. Nó băng đồng, đội mưa hướng về doi mả cuối cồn mồ.

Đêm hôm ấy, hắn sốt li bì với những cơn ác mộng chập chờn triền miên… Sáng ra, nó tỉnh giấc nhưng vẫn còn nằm liệt trên giường. Chẳng biết có hẹn hay không mà cả Giáo Mừng cùng Bát phẩm Lệ lại xuất hiện một lúc. Sau lời thăm hỏi vẻ an ủi, Giáo Mừng trao cho hắn một xấp tiền đủ loại; rồi ông tỉ mỉ:- Đây là tiền bán củi chuyến rồi, đây là tiền học sinh phúng điếu, nào là tiến quyên góp của bà con. Tổng cộng được trên 400 đồng. Đoạn Giáo Mừng và Bát phẩm Lệ mỗi người móc ra trao cho nó mười đồng. Hắn lựa lời từ chối nhưng cả hai không chịu. Bát phẩm Lệ nói: Tao và thầy Khóa cho chú để thắp nhang cho thằng Côi, chú phải nhận mới được. Ở thều thào mấy lời cảm ơn rồi lại nằm vật xuống giường. Hai người đứng dậy ra về. Cả cái làng Hải Trạch này nhiều người đã phát ghen với Ở về sự ưu ái của hai nhân vật thuộc hạng có uy tín nhất ở địa phương. Có lẽ Giáo Mừng với hắn cùng một hoàn cảnh gà trống nuôi con, cả hai lại cùng là những người ngụ bạc. Vả lại, thằng Côi là một học trò ngoan, giỏi của thầy. Đã nhiều lần hắn ngõ ý gởi gắm con nó cho thầy, nhờ thầy truyền cho nó một mớ chữ nghĩa để sau này nó sướng thân,  tránh phải cái cảnh tôi đòi như hai đời cha ông nó. Ở thấy khát rang cổ họng. Hắn lồm cồm ngồi dậy cố mò ra cái ấm nước vầng trên bếp tro đã lạnh ngắt mấy ngày nay, chỉ còn vừa đủ một hớp pha mùi khói rạ. Thấy thấp thoáng bóng ai ngoài sân, hắn nhìn ra; Thoa đã nhanh chân bước vào, nàng vội trao cái xoong cháo cá còn bốc khói, hai gói thuốc căn cơ tán, một chai dầu nhị thiên đường và còn có cả một bó lá xông. Nàng nói lí nhí mấy câu rồi vội vã bỏ ra như sợ có người nhìn thấy. Từ ngày mẹ thằng Côi mất đến nay, đã hơn mười năm dài. Giờ đây Ở mới nhận được hơi ấm từ sự chăm sóc chu đáo của một người đàn bà. Có lẽ đây là liều thuốc kì diệu đã đem lại sự hồi sinh. Hôm sau, người hắn đã tươi tắn trở lại nhưng nỗi buồn thương nhớ thằng con vẫn còn dai dẳng. Mấy ngày liền, hắn chỉ quanh quẩn trong túp lều tranh trống vắng. Thỉnh thoảng lại đốt cây nhang cắm lên bàn thờ đứa con vắn số. Bát phẩm Lệ thương hắn cũng có nhiều lí do, hiền lành chất phác số phận hẩm hiu lại giúp cho lão được nhiều việc: khi thì lợp lại chái hè, khi thì làm cỏ sân vườn, chăm sóc chu đáo mấy luống khoai, bụi chuối. Lão cũng trả tiền công đàng hoàng lại có phần hậu hĩnh hơn nữa là đằng khác. Đúng ngày làm tuần thứ nhất. Ở ra chợ mua con gà giò, mấy lon nếp, chùm hoa vạn thọ. Tối đến, khi hàng xóm đã đi ngủ cả. Hắn bầy lễ vật lên bàn thờ thằng Côi, đốt đèn nhang rồi ngồi lặng yên tưởng nhớ đến con. Hắn khóc một mình. Ngồi ôn lại cuộc đời đầy sống gió – Sau trận lụt khủng khiếp năm ấy, dân làng phá Tam Giang hầu như đã chết trôi hết gần một nửa. Cha mẹ hắn cũng nằm trong đám người bất hạnh ấy. Nhờ người cô sống sót nuôi nấng từ lúc lên 5 đến lúc 12 tuổi, hắn phải đi ở đợ nhà ông Chánh Tổng Thị cho đến tuổi trưởng thành. Hắn chẳng biết tên cúng cơm của mình là gì, chỉ biết lơ mơ rằng khi mới đến nhà Chánh Tổng. Biết được tên hắn trùng với tên húy của nội tổ chủ nhà nên người ta lại đặt tên mới cho hắn, từ đó nó bắt đầu mang cái tên mà nghe ra đã biết thân phận của một kẻ tôi đòi: thằng Ở. Cái ơn nghĩa sâu nặng nhất mà nó nguyện cả đời không bao giờ quên là việc ông Chánh Tổng đã dựng vợ gã chồng cho nó, lại còn cho nó một khoảnh đất nhỏ ở góc vườn để làm chốn nương thân. Nói là dựng vợ gã chồng cho phải đạo ấy thôi. Chẳng qua chỉ là việc hợp thức hóa hôn nhân giữa hắn và một người đàn bà làm công góa bụa. Với uy tín của một vị Chánh tổng đương quyền ấy cũng là một việc trọng thị. Có người ác ý lại phao tin lão Chánh tổng đã lang chạ với người ăn kẻ ở rồi bán cái cho thằng Ở để tránh tai tiếng, ảnh hưởng đến gia phong và quyền uy. Nhưng mọi chuyện thị phi hắn đều bỏ ngoài tai. Với thân phận tôi đòi như hắn thì nằm mơ cũng chẳng có được. Vả lại ông trời cũng có mắt. Thằng Côi giống hắn như khuôn đúc- cái dáng lùn lùn, chân đi chữ bát, đôi vành tai dão ra như thỏ thì còn chối đằng nào nữa. Hắn hạnh phúc thật sự với người đàn bà lưu lạc đó. Vợ hắn hiền từ, biết chiều chồng chăm con, chí thú làm ăn tần tảo. Con tạo lá lay, nó lại đánh ghen với cả hạng người cùng khổ như thằng Ở. Chỉ một năm sau ngày sinh thằng Đợ thì vợ nó qua đời sau cơn bạo bệnh. Thằng cu Đợ nay được cải thành cu Côi cho “dễ nuôi”. Thế là cha con hẩm hút với nhau được hơn 10 năm rồi; vậy mà bây giờ thằng Côi, nguồn an ủi duy nhất của đời hắn chỉ còn là một bát nhang lạnh giá. Đang ngồi miên man suy nghĩ, chợt cánh cửa sau động đậy, khẻ bước lại gần. Hắn nghe rõ tiếng Thoa qua kẻ lá : “Mở cửa ra.” Hắn run người, mân mê một hồi mới kéo được cái cây gài cửa. Không vào nhà, hắn kéo tay nàng sang bụi chuối phía sau chuồng trâu. Hai trái tim tưởng chừng như băng giá suốt đời nay bỗng dưng lại hừng hực lửa tình. Thằng Ở mạnh dạn ôm nàng sát vào lòng để tận hưởng cái giây phút ngàn năm một thuở. Bỗng dưng mắt nó hoa lên. Ngôi nhà hắn đằng kia đã phủ kín ngọn lửa sáng rợp trời, tiếng đòn tay nổ lốp bốp, tro bụi mù trời. Chỉ trong chốc lát, cái gia tài thuộc loại tận cùng của xã hội đã tan thành mây khói. Tiếng la hét hòa lẫn tiếng chân rầm rập của dân làng đến cũng chỉ để mà đứng nhìn đống tro tàn. Trong cơn hỗn loạn đó, Thoa đã nhanh chân hòa vào đám đông còn Ở thì vẫn cố thu mình sau thân mấy cây chuối sứ khổng lồ đã nhàu lá bởi ngọn lửa bắt sang.

Sáng hôm sau, người ta không còn thấy bóng dáng thằng Ở trong làng. Tha hồ mà người ta đồn đoán. Nào là vong hồn thằng Côi về thăm cha nó làm phát hỏa bát nhang mà gây nên hỏa hoạn. Nào là việc ông Chánh tổng sai người đốt nhà nó để vong hồn thằng Côi khỏi hiện về mà quấy phá con cháu nhà ông. Còn Thoa thì cứ thơ thẩn vào ra như kẻ mất hồn. Thế là hết, mồ côi mẹ từ thuở lên năm. Cha nàng, Giáo Mừng ở vậy chịu cảnh gà trống nuôi con với đồng lương Hương sư phụ khuyết ba tháng lãnh một lần chỉ vỏn vẹn 600 đồng nhưng bù lại thầy được làng cấp năm sào ruộng loại nhị đẳng điền. Con nhà gia giáo, nhan sắc cũng dễ coi, đã nhiều đám dạm hỏi nhưng vì không muốn cha già chịu cảnh cô quạnh, nàng đã nhất mực từ chối. Nay thời xuân sắc đã dần phai nhạt. Chuyện chồng con Thoa không còn gì để mơ tưởng nữa.

Thằng Ở bỏ làng ra đi được khoảng mươi hôm thì tai họa lại đến với dân làng Hải Trạch. Tai họa xảy ra ngay giữa chốn thờ phụng linh thiêng. Một buổi sáng, người ta phát hiện Từ Mậu nằm chết cong queo, miệng còn đọng đầy đờm dải pha lẫn với máu bầm ngay dưới bàn thờ thành hoàng. Không thể giấu giếm. Lý trưởng Dy phải báo lên huyện đường. Tri huyện Phú Vang mới vừa nhậm chức là người tây học lại còn trẻ tuổi nên đám quan chức địa phương rất dè nể. Đề lại phụ trách án tiết được cử về lập biên bản vi bằng và chỉ thị cho tổng Mậu Tài phải giúp hương chức làng Hải Trạch tìm biện pháp chấm dứt cảnh dân làng bị chết oan vì loài rắn độc ở ngay tại đình thờ. Ngày hôm sau, Chánh tổng Thị triệu tập Hội đồng hương chánh để thi hành chỉ thị của cấp trên. Cánh thủ cựu gồm mấy lão nho học nửa vời, thuộc hạng “học năm ba chữ để ăn quanh trong làng” thì lý giải: – Thành Hoàng quở trách dân làng có kẻ thất lễ với Ngài. Phải tế Tam sanh để tạ tội trời đất thì mới tai qua nạn khỏi. Những người tân tiến thì bài bác giải pháp này. Người đứng đầu là Bát phẩm Lệ. Nguyên là một đội Khố xanh, đã học hết lớp Nhì nhất niên ( tương đương với lớp 4 bây giờ); khi đáo hạn, lão được triều đình Thành Thái ban phẩm hàm Tòng Bát Phẩm đưa ra luận cứ: Các Ngài đã bảo thành hoàng làng ta linh hiển và thương dân lắm. Vào thời buổi dịch tể đã giết gần nửa dân số làng bên, trong đêm đám âm binh và ma dịch kéo sang làng ta thì ngài thành hoàng đã mặt áo đỏ, hiện ra trên cây dương liễu trước miếu mà xua tay, ra hiệu cho chúng rời xa nơi khác. Nhờ vậy mà năm ấy dân làng ta đã tránh được cơn đại họa. Thế thì thiết gì mà ngài lại ra tay sát hại hai sinh linh thuộc loại cùng khổ nhất làng. Theo chúng tôi, ngày mai, sắc dân ra đình mà làm sưu dịch hai ngày. Phát hoang bờ bụi và đào bỏ gốc đa cổ thụ đã chết đứng mấy năm rồi; đây mới là nơi ẩn cư của loài rắn độc. Hôm sau, đám dân đinh đã được triệu tập ngay trước sân đình, dưới sự chỉ huy của Kiểm Cẩn. Bỗng dưng thằng Ở xuất hiện, tay hắn cầm cây mác mài sáng ngời, cùng tham gia với đám đào bới. Ngay khi gốc đa vừa bật lên, một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp; hai con rắn hổ chúa, mỗi con dài gần 3m to bằng cổ tay người lớn, da dẻ xù xì, ẩm mốc trông rất kinh hãi đang đờ đẫn bò ra. Chớp mắt, thằng Ở đã vung cao cây mác chém lia lịa, máu me tuôn xối xả, văng đỏ cả mặt mày quần áo hắn. Vẫn lầm lì không nói một lời nào hắn chém vỡ nốt mấy quả trứng lông lốc gần đấy, mấy chú rắn con bò ra nhun nhúc, hắn cũng không tha. Rồi hắn lẳng lặng vác mác vào làng. Không mấy ai biết lý do trở về của hắn. Vì không nở để nắm xương tàn của thằng Côi lạnh lẽo hay hắn trở về vì không quên được hơi thở nồng ấm, ngọt ngào của Thoa vào cái đêm kinh hoàng đó? Sáng hôm sau, người ta thấy hắn ở trong nhà Chánh tổng Thị. Lão đã tính kỉ khi cho hắn ở trong nhà. Một lão được tiếng là người nhân đức, hai là có mặt thằng Ở cũng đỡ công thay việc. Vụ mùa năm ấy, thằng Ở thường sang giúp giáo Mừng. Độ rày Thoa cũng thường hay đau ốm vặt vãnh; thế là thiên hạ lại bắt đầu dị nghị. Dân cái làng này đã bao đời nghèo rách mồng tơi nhưng lại giàu về chuyện ngồi lê đôi mách. Họ bàn đến chuyện “ trai quá vợ, gái lỡ thì”, lửa gần rơm… Có kẻ ranh ma lại khen kéo: “Giáo Mừng có phước, chọn  được người giỏi giang, hiền từ lại có đường bắt rể…” Sau cái chết của từ Mậu, dân làng không ai dám nhận lãnh chức giữ từ với ân tứ  hậu hĩnh: được nhận năm sào ruộng và hưởng huê lợi hai sào vườn sau đình. Từ ngày thằng Ở trở về, lão Bát phẩm như để ý chăm sóc nó hơn. Phải chăng vì nó đã hiên ngang chém banh thay hai con rắn độc để minh chứng cho ý kiến của lão. Việc này đã làm tăng uy tín của lão với Hội đồng hương chính và tranh thủ được sự ủng hộ của đám quan chức trên huyện đường.  Có lần Bát phẩm Lệ đã gợi ý cho nó đảm trách việc giữ từ nhưng nó đã khéo léo từ chối. Nó viện cớ mình sắp trở về quê cũ để sống với dòng họ trong quãng đời còn lại. Một lần vui miệng, lão đã nửa đùa nửa thật nói với Ở: “Biết đâu ở lại cái làng này, mày lại có dịp nên đôi nên đũa với gái nhà lành”. Với Giáo Mừng, Bát phẩm Lệ là người ban ơn ban nghĩa, chính lão đã cưu mang Giáo Mừng về xây dựng cơ nghiệp ở cái làng Hải Trạch này. Vốn quen biết nhau từ lúc còn học trường Tổng, lão học sau Giáo Mừng hai lớp và lại nhỏ hơn đến sáu tuổi; chính vì vậy họ xử sự với nhau như tình huynh đệ. Giáo Mừng không gọi lão là Bát phẩm mà gọi là anh Đội. Đổi lại lão gọi Giáo Mừng là chú Khóa( thời bấy giờ ai đỗ tiểu học thì được gọi là thầy Khóa). Việc muốn trở lại quê nhà của thằng Ở chỉ là một cái cớ. Ra ở giữ từ hắn sợ tai họa như lão Mậu, hơn nữa nổi ám ảnh về đứa con thân yêu của hắn đã bỏ mạng nơi đây vì loài rắn độc. Bởi vậy mà hắn cứ lần lửa hẹn.

Gần đây, thỉnh thoảng thằng Ở lại chèo ghe mang nhang ra giao cho các quán hàng ở chợ huyện giúp lão Bát phẩm. Lúc ra về, ghé lại tiệm hút của một người Tàu nhận một chai nước “hương liệu”, đó là một loại nước có màu đen xám, mùi tanh tanh mang về cho chủ. Hơn một năm nay thằng con trai duy nhất của lão Bát phẩm đã mở cơ sở làm nhang tại nhà. Ngày khai trương, lão Bát phẩm đã khôn khéo tiếp thị ngay tại đình làng trong dịp lễ Thu tế. Lão đã xin dâng cúng loại nhang đặc biết và hứa sẽ cung cấp nhang để cúng đình tròn năm đó. Nói vậy chứ ban nghi lễ cũng không để cho lão chịu thiệt. Từ đó hiệu nhang của con trai lão được quãng bá rộng rãi, tiêu thụ khá mạnh trong vùng và lan ra cả chợ huyện. Cũng nhờ chất liệu đặc biệt của mùi nhang, thoang thoảng hương trầm, tuy pha mùi hăng hắc nhưng chỉ ít phút sau lại có cảm giác lâng lâng sảng khoái. Một buổi sáng cuối đông, người ta thấy thằng Ở đang loay hoay sửa lại chái bếp cùng với lão Vấn, người chăn vịt ở cạnh đình. Thế là thằng Ở đã nhận chức giữ từ kể từ hôm đó. Làng Hải Trạch có cái lệ rất khắc khe, người giữ từ phải độc thân, lớn tuổi như thế việc nhang khói mới tinh tấn, trang nghiêm. Lý do thằng Ở nhận giữ từ chỉ có lão Bát phẩm và hắn biết. Mãi mê với công việc đến hết canh một hắn mới nghỉ tay ăn cơm và chuẩn bị nhang khói bái yết Thành hoàng. Khăn áo chỉnh tề, hắn trịnh trọng mở cửa miếu. Vừa sờ đến ống nhang, bất thần một con vật dài, lớn cở ngón tay bắn mình xuống nền gạch. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, hắn chỉ nhìn thấy một màu sáng bạc,uốn mình qua lại rồi biến mất vào xó tường. Vặn to ngọn đèn, hắn tiến đến gần quan sát, đó là một lỗ hổng bằng ngón tay cái. Khấn vái xong, hắn trở về nhà tăng, ngồi hút thuốc. Lên giường, trằn trọc mãi vẫn không sao ngủ được. Đêm nay, chính mắt hắn đã nhận diện kẻ thù giết con hắn. Bỗng hắn đứng phắt dậy, chạy thẳng ra chái bếp, rút mạnh cây mác trên vách, ra trước sân ngồi mài trong bóng tối. Tay xách đèn lồng, tay cầm cây mác, hắn đẩy nhẹ cánh cửa, lẻn vào. Ngồi tựa vào vách, đối diện bát nhang Thành hoàng, vặn nhỏ tim đèn. Mắt mở to như muốn chọc thủng cái ánh sáng tù mù. Hắn kiên nhẫn chờ đợi. Chợt hắn nín thở, ánh mắt rực lửa căm thù. Nó đang từ từ bò ra, rồi chậm rải như có ý dò xét, trườn về phía chân bệ thờ. Vừa đúng tầm tay, Ở giơ cao chiếc mác khỏi đầu,dùng hết sức bình sinh bổ xuồng – “Phụp”, một tia máu nóng văng ngay vào mặt, hắn nghe rõ mùi tanh. Con vật bung mình lên khỏi mặt đất, cuộn tròn rồi rơi ngay xuống vũng máu. Yên chí, hắn đưa tay vặn cao ngọn đèn nhưng tay kia vẫn còn ghì chặt cây mác. Con rắn quằn quại, lăn lóc trên nền gạch,quấn cong chiếc đuôi nhưng chỉ còn ngo ngoe yếu ớt  rồi nằm bất động. Cúi xuống, nhìn kĩ, cái đầu con rắn đã văng đâu mất. Hắn nắm cái đuôi giơ lên, vài giọt máu đen sì từ từ rơi ra từ chiếc cổ đứt lìa của con vật xấu số. Nhưng chưa đã giận, hắn quất mạnh xác con vật vào tường mấy cái rồi ra phía sau miếu thẳng tay ném vào bụi dứa gai. Hắn trở lại nhà tăng, đánh một giấc cho đến khi mặt trời mọc. Cao hứng, chiều hôm ấy, hắn xách chai rượu sang chòi lão Vấn và ở đó đến sáng mai mới về.

Nhìn những hàng ớt thẳng tắp, mấy nụ hoa đầu mùa đã nhú ra như những hạt cúc áo trắng tinh, lẫn trong tàn lá mượt mà màu xanh lá mạ; bên cạnh những luống cà đã bắt đầu e ấp nụ tầm xuân. Một tia sáng lóe lên trong cuộc đời của hắn- Ham muốn một mái ấm gia đình lại thôi thúc hắn hơn lúc nào cả. Từ lúc về ở đợ cho nhà ông Chánh tổng đến lúc lập gia đình với người vợ vắn số. Với hắn, sở hữu được năm sào ruộng với hai sào vườn là một điều không tưởng. Hắn biết đây là một ân tứ mà Bát phẩm Lệ đã ưu ái dành cho cuộc đời hắn. Có điều lạ là hắn giữ kín chuyện cái đêm trả nợ máu kinh hoàng đó. Người ta chỉ biết bây giờ thằng Ở ra vẻ yêu đời hơn.

Chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày “Xuân thủ kì yên”, sáng hôm đó, đầu xâu(1) Ẩm ra đình sớm, lão tìm thằng Ở để cùng quét dọn bàn thờ, miếu mạo quanh sân đình. Tìm mãi không thấy nó ở đâu, lúc ngang qua chánh điện, thấy cửa đã mở toang hồi nào, nhìn vào bỗng lão hốt hoảng, chỉ biết ú ớ một hồi rồi mới cất tiếng la lên, gọi lão Vấn đang chăn vịt ngoài đồng. Hai người vào chánh điện, thấy thằng Ở nằm co quắp ngay dưới bệ thờ Thành hoàng. Toàn thân lạnh ngắt, cứng đờ. Ẩm chạy ngay vào làng báo cho Lí trưởng và một vài người trong hội đồng hương chánh. Chẳng bao lâu, dân làng kéo đến đen nghịt sân đình. Chánh tổng Thị sai người cấp báo lên huyện đường. Đích thân tri huyện Phú Vang cùng thầy lại án tiết xuống hiện trường xem xét và điều tra sự việc. Biên bản vi bằng ghi rõ: “Nạn nhân Phạm Văn Ở chết do giẫm phải xương đầu của một loài rắn độc đã khô, hai răng móc ghim vào gót chân trái của nạn nhân…Ước đoán nạn nhân chết vào khoảng đầu hôm…” Khi được sự cho phép của thầy đề, thi thể nạn nhân được mang ra khỏi miếu, miệng nó méo lệch về một bên, một dòng máu khô đen ngòm còn đọng lại trên cổ. Khi gỡ cái xương đầu rắn ra từ gót chân, hai giọt máu bầm từ từ ứa ra từ hai chiếc răng móc. Thông cảm hoàn cảnh, quan tri huyện đã hứa cho hắn tiền mai táng. Đám ma không thể để lâu hơn vì ngày mai là tiên thường Xuân tế. Làng đã quyết định phải mai táng nội trong đêm nay. Quan tài được đặt ở góc vườn sau nhà tăng. Ba hồi đồng la báo hiệu giờ sắp đến giờ di quan, lúc ấy gần khoảng nửa đêm. Bỗng Giáo Mừng xuất hiện, khăn áo chỉnh tề, bên cạnh là Thoa bước vào tay xách cái gói vuông vuông, bọc trong tấm vải điều. Nàng cúi mặt chẳng dám nhìn ai, nhưng cũng không dấu được đôi mắt đỏ hoe. Nàng khẻ đặt lên bàn linh. Giáo Mừng tẩn mẩn mở ra. Đấy là một khay trầu rượu và một khổ vải trắng xếp vuông vức. Trước mặt đầy đủ quan chức bua việc, hai tay chấp trước ngực ông trịnh trọng: “Kính thưa bác lý, kính thưa các vị bô lão và các vị trong hội đồng hương chính. Hôm nay cha con tôi đến đây để xin quí ngài hai việc: – Trước hết tôi xin chịu tội với quí ngài và dân làng về việc tôi đã không làm tròn bổn phận của người cha để con gái tôi hoang thai, làm tổn hại đến thanh danh làng nước. Còn việc thứ hai, xin quí ngài chấp nhận thằng Ở là cha của đứa con hoang thai đó; trước để nó có giọt máu nối dõi tông đường, sau là cháu ngoại tôi khỏi mang tiếng là con vô thừa nhận, không dòng họ tổ tông. Trước vong linh nó tôi xin thề đây là sự thật. Nói đoạn, ông kính cẩn chấp tay xá mọi người, Thoa cũng làm theo cha. Bát phẩm Lệ đứng dậy xua tay rồi ôn tồn: “Chuyện đã đến thế rồi, thầy cũng đã cạn lời, tôi xin thay mặt các ngài có mặt hôm nay chấp nhận lời thỉnh cầu của thầy, thầy đừng làm thế mà chúng tôi thất đức. Thoa cúi đầu xá mọi người rồi đưa tay lấy xấp vải trong khay trịnh trọng quấn lên mái tóc rũ rượi. Nàng quỳ xuống trước bàn linh mà lâm râm khấn vái. Đến giờ di quan, người ta thấy nàng lê bước theo sau quan tài, tay nâng bát nhang mà nước mắt ràng rụa. Có người trầm trồ: – Thế mà thằng Ở có phước, giờ phút cuối cũng có người bịt cho nó một vành khăn tang và phúc đức hơn cả nó đã có người nối dõi tông đường. Được sự can thiệp của lý trưởng Di, thằng Ở được chôn cạnh mồ con nó.

Sau lễ Xuân thủ kỳ yên năm đó, Bát phẩm Lệ bỏ luôn nghề làm nhang. Lý do lão đưa ra xem cũng khó phần thuyết phục- Thằng Ở chết rồi không có ai đem nhang lên chợ huyện vả lại lời lóm chẳng bao nhiêu. Nay lão cần có thời giờ để an dưỡng tuổi già. Dạo này người ta thấy lão và giáo Mừng khắng khít nhau hơn. Hai người lại bắt đầu đi lễ chùa, thường hay lui tới đàm đạo với sư cụ làng bên. Tin đồn thằng Ở bị đầu rắn độc trả thù gây hoang mang không ít cho dân làng và vùng lân cận. Có người cho rằng vì thằng Ở chém chết hai con rắn hổ chúa là lính hầu của Thành hoàng nên bị ngài trừng phạt. Lại có kẻ xấu miệng xấu mồm loan tin vì thằng Ở tằng tịu với con Thoa phía sau đám rẫy rồi lại vào đốt nhang làm ô uế chốn linh thiêng nên bị Thành hoàng bắt phải chết thảm. Duy chỉ có giả thuyết cho rằng loài rắn độc có tính trả thù dai như những câu chuyện hoang đường được truyền tụng trong dân gian là được nhiều người chấp nhận. Họ có biết đâu con rắn độc ở miếu Thành hoàng làng Hải Trạch cũng chỉ là một trong những nạn nhận của nàng tiên nâu, là sợi dây oan nghiệt đã kéo theo ba mạng người thuộc hạng khốn khó nhất trên cõi đời này. Người gieo rắc cái họa ấy không ai khác là lão Bát phẩm Lệ, một người xưa nay vốn được tiếng giàu lòng nhân đức. Nhưng nào có ai ngờ chính lão đã tự tay châm lửa đốt nhà thằng Ở, rồi phao tin vu cho chánh tổng Thị, nhằm hạ uy tín ông ta trong kì bỏ thăm nhiệm kì sắp đến, để tranh giành cái chức mà lão đang dòm ngó  . Cách đây chừng hai năm,  lúc sửa nhà cho lão, thằng Ở đã bị cây đè, hậu quả dẫn đến chứng vô sinh. Chỉ có lão là người duy nhất được bác sĩ điều trị cho biết việc này; trong lúc lão thăm nuôi  Nhưng vì sợ liên lụy nên lão đã dấu nhẹm. Những lần hẹn hò lui tới giữa Thoa và thằng Ở đều do lão sắp xếp. Tác giả cái bào thai trong bụng con Thoa không ai khác là lão. Thằng Ở được sử dụng như ngọn lá chắn để che đậy mối tình vụn trộm giữa lão và con gái giáo Mừng. Trong đêm đám tang thằng Ở, màn  kịch đã được diễn xuất suông sẻ, trót lọt và có hậu; cũng do chính tay lão dàn dựng. Chỉ tội nghiệp cho vong hồn thằng Ở đã sống với mối tình hờ. Rồi đây, đứa trẻ sắp chào đời chắc cũng không tránh khỏi vòng oan nghiệt, lạc loài do chính bàn tay kẻ tạo ra nó bày mưu lập kế./.

Chú thích:

(1): là người giúp việc cho hội đồng hương chính

Cần Thơ 22/1/2011

Lời Mở Đầu

Trang Blog Văn Chương Quốc Học 1964 được thực hiện để giới thiêu những sản phẫm văn nghệ của các bạn Cưu học sinh Quốc Học Niên Khóa 1964. Trong đó dĩ nhiên không thiếu sót các bạn trước đây đã từng là thân hữu trong các trường trung học đệ nhất cấp Hàm Nghi, Nguyễn tri Phương, Bồ đề, Bán Công v.v.v.  của thòi kỳ 1957-1964

Người đầu tiên chúng tôi muốn giới thiệu cùng quí bạn là Anh Nguyễn Ngà, một thời là học sinh Hàm Nghi.  Nhân dịp Anh Ngà gặp bạn Trần Ngọc Cư tại Việt nam, anh muốn góp vui chia sẽ cùng các bạn 2 truyện ngắn của Anh.  Chúng tôi chân thành giới thiệu cùng các Ban.  Xin Các bạn Click vào trang Hải Trình (Hải Trình là bút hiệu của Anh)  để đọc nhũng tác phẫm của Anh

Post Navigation